Câu chuyện này tôi từng viết trong bài văn cô giáo ra hồi cấp 3, đề tài là "Đặt mình là Mỵ Châu kể lại truyền thuyết Mỵ Châu - Trọng Thủy, qua đó phát biểu cảm nghĩ về vua cha".
Có lẽ theo thời gian khi con người ta lớn lên, ắt hẳn cách nhìn, cách nghĩ sẽ có hơi khác thuở còn thơ bé, nhưng với tôi, câu chuyện này có chút gì đó sâu sắc, nhất là ở khía cạnh tình phụ tử, bởi thế nó khiến tôi ấn tượng mãi. An Phương
---------------------------------------------------------------
Ngồi đây ngắm nhìn thế giới xung quanh nghi ngút
khói nhang. Ngày ngày, từng đoàn người ra vào ngắm nhìn, thắp nén nhang cầu
phúc cầu an cho bản than và gia đình, tôi lại nhớ đến ngày xưa thưở còn thiếu nữ,
sống êm đềm trong cung điện nguy nga bên người cha yêu dấu thật hạnh phúc biết
bao. Giá như ngày đó tôi chín chắn hơn, sáng suốt và cảnh giác hơn thì có lẽ
tôi đã không phạm sai lầm khủng khiếp như thế, có lẽ tôi và cha sẽ không bị dồn
vào con đường cùng như thế. Có lẽ…
Ngày ấy tôi là công chúa yêu kiều con vua An Dương
Vương. Là công chúa, phận nữ nhi, tôi ít tham gia triều chính, nếu không muốn
nói là phận nữ nhi khuê các chỉ biết nơi khuê phòng. Cuộc sống của tôi êm đềm
nơi hậu cung, vì thế cũng chẳng biết nhiều về chuyện đất nước, cũng không hiểu
nhiều về cha. Tôi chỉ biết cha là vị vua yêu nước thương dân, chăm lo cho bách
tính. Tôi thấy tự hào về điều đó. Nghe đâu cha tôi đang chuẩn bị xây dựng một
khu thành rộng, nơi cả đất nước chúng tôi sẽ định cư lâu dài, bách dân xây dựng
cơ nghiệp muôn đời. Nhưng không hiểu cớ gì mà khu thành xây mãi không được, cha
bèn lập đàn trai giới cầu đảo bách thần giúp sức. Được thần linh giúp đỡ, thành
đã xây xong trong sự mừng vui của bách tính và triều đình.
Khi chuyển về nơi ở mới, tôi ngồi kiệu nên không
nhìn hết cảnh sắc tòa thành, không rõ hình dạng thành ra sao, chỉ biết thành rộng
lắm, kiệu rước phải đi một quãng đường rất dài, tôi ngồi trong mà mệt mỏi toàn
thân mới tới phòng của mình. Thành này tên gọi Loa thành vì nó được xây dựng xoắn
như hình trôn ốc, thành rộng tới hơn ngàn trượng. Tôi nghe đám tì nữ kể thế.
Cũng từ khi xây thành xong, có vị thần rùa- người đã giúp vua cha xây thành, ở
lại giúp cha chống giặc giữ yên bờ cõi. Tôi chưa gặp ông ta bao giờ nên chẳng
rõ hình dáng ông ta thế nào. Chỉ nghe kể là sau 3 năm giúp cha giữ thành, vị thần
rùa ấy từ biệt cha trở về chốn biển cả. Trước khi đi, ngài trao cho vua cha một
thứ bảo bối dùng cho việc bảo vệ đất nước. Tôi thì không rõ thực hư thế nào, chỉ
nghe bảo đó là chiếc nỏ thần, nó có hình dạng chiếc nỏ thật, nhìn cũng khác lạ,
tôi cũng chỉ được ngắm có một lần khi theo cha vào căn phòng nơi cất giữ báu vật.
Thật khó tin nhưng quả thật, chiếc nỏ thần ấy có phép màu nhiệm, quân Đà tấn
công vào thành đã bao lần mà chưa lần nào thắng nổi vòng quân tuyến ngoài chứ đừng
nói việc tấn công vào cổng thành. Vua cha nói đó là nhờ có nỏ thần bảo vệ nên cả
Loa Thành mới được bình yên như thế.
Sau này, bên quân Đà đánh mãi không thắng thì đành
cho người sang cầu hòa, kết giao duyên ước bởi khi đó tôi cũng đã đến tuổi cập
kê. Tôi trở thành con dâu họ Triệu, lấy chàng Trọng Thủy làm chồng. Chàng về ở
rể, làm phò mã, trợ giúp vua cha quản việc nước. Một thiếu nữ buổi đầu duyên ước,
tôi đắm say trong tình yêu mới. Chàng rất mực thương yêu, cha cũng cưng chiều
tôi.
Một hôm, đang dạo chơi trong vườn hoa, chàng Trọng
Thủy thỏ thẻ, nghe nói vua cha có bảo bối quý có công giữ nước, chàng muốn được
chiêm ngưỡng cho thỏa trí tò mò và hiếu kì. Lời chàng nhẹ như gió và ngọt ngào
như tiếng nước róc rách bên tai, thân làm vợ chàng làm sao từ chối cho được.
Tôi đồng ý dẫn chàng vào xem bảo bối, dặn chàng cẩn thận kẻo làm hư lại bị vua
cha trách phạt. Chàng nâng niu bảo bối, ngắm nhìn tỉ mỉ cẩn trọng, ra điều suy
tư lắm. Chắc cũng khó tin chiếc nỏ kia thần kì đến thế.
Thời gian trôi qua, chàng ngỏ ý muốn được về thăm
vua cha bên nước Đà, cũng lâu rồi 2 cha con họ không gặp nhau, chàng làm rể
cũng đã lâu chưa trở về thăm cha. Trước khi lên đường, chàng hỏi tôi “tình vợ chồng chung thủy, tình cha con không
thể dứt bỏ. Nay ta về thăm cha, lỡ hai nước bất hòa, làm sao đôi ta trùng phùng?”.
Câu hỏi bất ngờ của chàng khiến tôi bất an, đẫm lệ đáp rằng: “Thiếp phận nữ nhi, gặp cảnh chia li thì đau
xót vô cùng….Thiếp có chiếc áo lông ngỗng luôn mang bên mình, đi tới đâu thì rắc
tới đó. Chàng cứ theo dấu mà đi, tới đó sẽ tìm được thiếp”. Thế rồi chàng
đi, tôi ngày đêm mong ngóng mà chưa thấy chàng về.
Đất nước lại chiến tranh, thành quách tán loạn. Một
hôm, đang trưa nắng nôi, vua cha truyền lệnh hai cha con sẽ phải rời thành ngay
lập tức. Con ngựa trắng cha hay cưỡi đi săn hôm nay được đóng cương vội vàng,
cha đặt tôi ngồi lên lưng ngựa cùng người rồi phóng ngựa lao đi. Cha thúc ngựa
phi nước đại cả quãng đường dài, ngựa phi như bay. Cha không nói câu nào, dường
như người đang rất căng thẳng, vội vã và lo lắng. Có điều gì đó không ổn chăng?
Tôi không dám hỏi, chỉ biết bám chặt vào sau, nép mình vào cha. Chợt nhớ đến Trọng
Thủy, tôi nhẹ rứt từng chiếc lông trên tấm áo đang mặc, rải khắp đường đi, hi vọng
chàng nhận ra mà lần theo dấu. Ngựa chạy quãng đường dài thì cũng thấm mệt, cha
dừng ngựa bên bờ biển. Trời nhá nhem tối, cảnh xung quanh vắng lặng không một
bóng người. Biển tối sầm một màu xám xịt ù buồn, gió lặng đến rợn người. Cha xuống
ngựa, đi qua đi lại, đôi mắt người lướt khắp một lượt như đang tìm kiếm ai đó
hoặc điều gì đó. Chợt người gọi to, mắt hướng về mặt biển, “Sứ Thanh Giang, mau đến cứu ta”. Mặt biển
phẳng lặng hiền hòa bỗng nổi sóng dữ dội. Gió cuộn sóng dâng lên cao đến tận
chân trời, phả vào mặt cảm giác lạnh tê tái. Từ những ngọn sóng, một con rùa
vàng to lớn, dáng đứng như người, sừng sững
hiện lên hiên ngang đường bệ. Rùa vàng hét lớn, tiếng hét như tát vào mặt tôi
và cha, “kẻ ngồi sau lưng ngươi chính là
giặc đó”. Tôi chết trân nhận ra rùa vàng biết nói tiếng người, càng sững sờ
không hiểu điều gì vừa xảy ra, câu nói có ý nghĩa gì? Tôi quay sang cha tìm lời
giải thích thì bắt gặp ánh mắt người nhìn tôi một cách vô cũng dữ tợn. Ánh mắt
người như hai ngọn lửa hừng hực cháy thiêu đốt tôi đến tận tâm can. Cha nhìn
tôi, cảm giác ông đang dồn toàn lực vào thanh kiếm sắc mới rút ra, lưỡi kiếm sắc
lẹm, sang loáng trong màn trời nhá nhem tối, dường như có tia chớp nào vừa xoạt
ngang qua đây. Tôi bàng hoàng ú ớ… Thanh kiếm giơ lên cao rồi đột nhiên chém xuống,
tôi chỉ kịp thốt lên trong đau đớn. “ Thiếp
phận nữ nhi, nếu có lòng mưu phản hại cha chết sẽ hóa thành tro bụi… còn nếu một
lòng trung hiếu mà bị người dối lừa thì chết sẽ hóa thành châu ngọc để rửa mối
nhục thù….”
Thời gian trôi qua rất lâu, tôi hồi tỉnh và hiểu ra
vấn đề, khi ấy tôi đã ở dương gian. Trước mắt tôi là những con người xa lạ, họ
đang thắp nhang, cầu khấn lầm rầm, có người ngước nhìn. Ánh mắt họ long lanh
sau làn khói tỏa ra nghi ngút. Những đứa trẻ quây quần bên một người râu tóc bạc
phơ, chắc đã già lắm. Ông đang kể câu chuyện “ngày xửa ngày xưa…”
Câu chuyện kể về người con gái đang ngồi trên cao
kia, người đã được chồng nàng mang về đây sau khi chết bởi lưỡi kiếm của người
cha. Chàng Trọng Thủy nặng tình với người vợ, ngày đêm mong nhớ nàng, rồi thì
chàng đã trẫm mình ở cái giếng kia. Có thể họ đã gặp được nhau ở nơi nào đó.
Vua cha sau đó được rùa vàng rẽ nước đi xuống biển, bây giờ ở đây chỉ còn thờ tự
người.
Tôi nghe câu chuyện về cuộc đời mình mà lòng dâng
lên sự hối hận, mọi sự giờ đã muộn màng, không còn có thể cứu vãn. Tôi không
trách Trọng Thủy mà chỉ trách bản thân mình quá ngây thơ, không tỉnh táo. Tôi
càng không trách cha dù người đã đem cái chết đến cho tôi mà chưa nghe một lời
giải thích. Dù sao đi chăng nữa, người vẫn mãi là cha tôi.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét