Lời cảm ơn

Cảm ơn bạn đã ghé thăm blog của Mèo Con Anx, hi vọng tiếp tục nhận được sự ủng hộ của bạn.
Mến chúc bạn luôn vui tươi và tìm thấy nhiều điều ý nghĩa trong cuộc sống nhé!

30 tháng 6, 2013

XUÂN ĐANG VỀ

---*---
-         Thầy… thầy ơi, thằng Y Ly nó đi rừng bị con hổ… hổ mang… mang cắn ngất trong rừng… thầy chạy đi coi nó với em…
Giọng  thằng Y Ruôi từ xa hớt hải chạy lại làm thầy giáo Nguyên giật mình. Thầy ngước lên, đẩy cặp kính cận đang trễ xuống mũi lên cao chút, gấp trang giáo án đang soạn dở rồi bước nhanh ra cửa.
-         Em nói sao? Y Ly bị hổ bắt sao? Nó đi rừng với ai mà bị hổ bắt?... em nói rõ thầy nghe xem nào.
Y Ruôi thở không ra hơi, nghe thầy nói cũng phải phì cười. Chẳng hiểu nó truyền tin thế nào lại bị thầy nghe nhầm ra thế. Trông điệu bộ vội vã của thầy nó càng mắc cười hơn. Thở gấp lấy hơi nó vội xua hai tay.
-         Không… không phải thầy ạh. thằng Y Ly bị con hổ mang cắn, là rắn hổ mang chứ không phải hổ. Đi theo em, à nó đi với em vô rừng bắn sóc. Nó đi không cẩn thận giẫm phải con hổ mang, à… rắn hổ mang. Không may bị đớp vào chân. Nó sợ quá té xỉu. Em hút nọc ra rồi gọi mãi mà nó không tỉnh. Em cõng nó không nổi, đành lấy lá cây che nắng cho nó rồi về gọi mọi người. Buôn xa quá, em sợ không kịp… thầy đi xem nó với em nhé.
Hai thầy trò hớt hải chạy đi, thầy chỉ kịp đóng sơ cái cửa nứa của căn phòng cũng làm bằng nứa. Thực ra nó là cái lán tranh vách nứa do dân trong buôn hò nhau một ngày công để làm cho thầy giáo mới về buôn.
Thấm thoát thầy cũng ở đây được một năm rồi. Tốt nghiệp Đại học đã hai năm, tấm bằng loại khá đủ sức để thầy xin vào mấy truờng gần nhà. Nhưng những ngày đi thực tập trên vùng rừng núi cao nguyên làm thầy thay đổi quyết định. Những đứa trẻ hiền lành thật thà, nguời dân mộc mạc bình dị, cái chân chất gần gũi ấy khiến thầy cảm thấy gắn bó với nơi này biết bao. Những nguời dân bình dị như chính nếp sống của học đã giữ chân thầy ở lại, trở thành thầy giáo nơi buôn Kang Dăng này, cái buôn nhỏ chỏ độ vài chục  nóc nhà lấp ló sau những ngọn đồi trùng điệp một màu xanh rừng thẳm. Trẻ con ở đây hiếu học lắm. Có em một buổi đi học một buổi lên rẫy giúp cha mẹ làm cỏ tỉa hạt hay thu hoạch vụ mùa. Có em buổi đi học buổi vào rừng kiếm măng mang ra chợ xã bỏ mối cho mấy quán của nguời Yoăn. Vất vả vậy mà không em nào nghỉ dù chỉ một buổi học, sĩ số lớp duy trì đều, nhiều em đạt danh hiệu Học sinh tiên tiến đuợc lãnh thuởng, cha mẹ chúng cũng mừng, mang theo bó rau bí hay ít măng rừng đến cho thầy, cảm ơn rối rít. Thầy từ chối không nhận bảo đem về thì họ cuời bảo: “thầy cứ ăn đi, ở nhà ăn không hết mà”. Lời thật thà ấy nghe mới bình dị làm sao khiến thầy vui lạ. Tuy mới chỉ ở đây một năm nhưng mối quan hệ thầy trò và cha mẹ chúng cũng trở nên gần gũi, hiểu nhau hơn.
Con đuờng mấp mô đây bụi cỏ, đi một lúc đã dẫn sâu vô rừng. Gặp con suối mát, Y Ruôi nghỉ mệt ngồi xuống vục nước rửa tay rửa mặt.
-         Thầy cũng rửa mặt cho mát.
-         ừ, em rửa đi, nhanh lên đi xem Y Ly thế nào chứ để bạn một mình trong rừng nguy hiểm.
-         dạ, nhưng em mệt quá thầy ơi. Nãy giờ em chạy cả đoạn đuờng xa… thầy đừng lo, nó sẽ không sao đâu mà.
-        
Hai thầy trò lại đi tiếp…
*--*--*
Thầy đi khuất sau con dốc, cả lũ ôm bụng cuời.
-         Thằng Y Ruôi đóng giả tài thật, nhìn mà không biết nó đang nói dối. tao cứ tuởng nó đang nói thật mày ạ.
-         ừ, thằng này giỏi… ấy, mà nó có nói dối mình bao giờ chưa nhỉ???
-         ừ nhỉ, phải đấy???
-         thôi thôi. Mấy cậu vào việc chính đi, ở đó mà nói nhiều, nhanh không thầy về bây giờ.
Giọng lớp truởng H Siêu vang lên có uy lực đến lạ, cả đám vội lật đật mở cửa buớc vào căn phòng vách nứa cửa khép hờ ban nãy, cùng nhau dọn dẹp. Chợt H Siêu đứng ngẩn nhìn quanh.
-         Gì vậy H Siêu?
Y Quân lên tiếng xé tan không gian nín lặng trong vài phút.
-         À, thầy ở gọn gàng quá. Tôi cứ tuởng thầy sống tuềnh toàng lắm chứ, con trai mà, lại ở môt mình nữa.
-         Ui dào, bà tuởng ai cũng như bà à..
-         Tôi thì sao chứ… ý ông là gì???
-         Ớ đâu có.. à, không biết thầy có nguời yêu chưa nhỉ?
-         Không biết nữa. Chắc là có rồi chứ.. Hay là chưa nhỉ…
Cả đám vừa dọn dẹp vừa nói chuyện rôm rả.
-         Không biết Y Ly làm xong việc chưa ta. Nó mà không chặt được cành mai đẹp là không đuợc đâu.- H Siêu chợt nhớ ra.
-         ừ, tôi cũng mong xem cây mai quá. – giọng H Thư xen vào.
*--*--*

- thầy ơi, em quên đường rồi, hình như bên này hay sao ấy… à không, đuờng kia thầy ạ…
Y Ruôi tư lự truớc ngã rẽ không nhớ đi đường nào.
-         Y Ruôi, em cho thầy biết đi, em đang dối thầy đúng không? Chúng ta đi lòng vòng nãy  giờ rồi mà chưa tìm thấy Y Ly. Trong khi các em đã thuộc khu rừng này rõ lắm cơ mà.
Lau mồ hôi lấm tấm trên trán, thầy Nguyên nghiêm mặt.
-         Đâu có… dạ không có đâu thầy.- Y Ruôi vẫn làm bộ kiên quyết dù giọng nói đã có phần ấp úng.
-         Y Ruôi, nói thật đi nào. Thầy biết xưa nay em đâu có nói dối như vậy. các em có “âm mưu” gì đúng không?
Thầy nhấn mạnh từ âm mưu làm suýt nữa Y Ruôi phì cuời.
-         Dạ không có đâu thầy… thật ra… dạ đây là đề xuất của lớp truỏng… tại chúng em biết ở chỗ thầy đón năm mới vui lắm, có mai vàng, bánh chưng… tụi em sợ tết ở đây buồn thầy  không ở lại với tụi em nên…
Y Ruôi cúi mặt ấp úng.
-         Ôi, cậu nhóc này…-Thầy phì cuời- thật là, thì ra đây là kế “điệu hổ li sơn” đó hả?- Thầy hóm hỉnh- vậy các bạn khác ở đâu rồi?
-         Dạ… ở nhà thầy ạ…
Câu chuyện tiếp tục trên con đuờng về buôn, thầy Nguyên cảm thấy trong lòng có niềm vui khó tả.

*--*--*

Lớp truởng H Siêu chạy hết chỗ nọ sang chỗ kia chỉ đạo lau bàn ghế, quét mạng nhện, sắp xếp lại bạn làm việc của thầy… nhìn ai cũng vui vẻ, mặt lấm tấm mồ hôi.
-         Lau nhanh nào các bạn. H Thư lau kĩ cái bàn nhé… ấy ấy cuốn sách ấy để chỗ cũ cho thầy…
-         Dọn dẹp xong chưa các bạn trẻ..?
Giọng thầy Nguyên vang lên khiến căn phòng bỗng im bặt, không khí căng ra, các bạn ngơ ngác nhìn nhau. H Siêu chưa kịp định thần, lắp bắp như kẻ cắp bị bắt quả tang đang ăn trộm. “thầy… thầy… Y Ruôi…”
Y Ruôi buớc theo sau  thầy, gãi đầu gãi tai.
-         Xin lỗi lớp truởng… tôi… tôi nói thật với thầy rồi.
-         Úi … cậu này…
-         Thôi đuợc rồi, thầy biết kế hoạch của các em rồi, H Siêu cũng đừng trách bạn ấy.- thầy Nguyên vội lên tiếng.- thầy cảm ơn các em, thầy vui và cảm động lắm, cảm ơn các em…
H Siêu đỏ mặt cuời trừ.
-         À mà lần sau đừng tự tiện xâm nhập nhà nguời khác thế nhé. Ít ra cũng phải nói truớc cho thầy biết đuờng chuẩn bị chứ, không lộ mất mấy bí mật đời tư của thầy thì sao?!- thầy Nguyên nháy mắt hóm hỉnh.
Căn phòng nhỏ vỡ òa, lũ trò nhỏ nhao nhao lên: “bí mật gì vậy thầy? a, thầy có bí mật gì kìa…”
-         Các bạn ơi, mai về rồi, mai vàng về rồi này…- Y Ly đủng đỉnh vác cây mâi buớc vào.- Ơ, thầy,… hì hì… ủa, lớp truởng, vậy là sao…?
-         Còn sao trăng gì nữa, thầy biết kế hoạch của tụi mình rồi. thôi vào đây, xem cây mai thế nào đã. Sao cậu đi lâu thế, làm chúng tôi đợi mãi.
-         Tại tôi tìm mãi mới thấy cây vừa ý mà…
-         ….
Cái lạnh se se tràn qua căn phòng. Gió lùa qua khe vách  nứa rồi đi ra qua cánh cửa cũng bằng nứa mang theo tiếng cuời giòn vang trong trẻo của nguời thầy và đám trò nhỏ. Đang giao mùa, cái lạnh mùa đông đang nhường chỗ cho khí trời ấm áp đầu xuân. Xuân đang về trên vùng đất cao nguyên này….
H XÍU H MOK

NHÀ DÀI ĐANG VẮNG BÓNG


Cuộc sống hiện đại với những tiện ích cuả nó đã và đang làm mất đi những giá trị văn hóa truyền thống và nét đặc trưng xưa cũ. Ở các buôn làng đồng bào Êđê tại Đăk Lăk hiện nay, các ngôi nhà dài đang xuống cấp và dần mất đi. Trong khi nhà gạch, nhà xây được xây dựng ngày càng nhiều.
Nhà dài là nét đặc trưng về kiến trúc của các dân tộc miền núi nói chung, của đồng bào Êđê Tây Nguyên nói riêng. Ngày xưa người Êđê dựng nhà gần rừng nên nhà phải cao hơn mặt đất để tránh thú dữ tấn công. Nhà dài là loại nhà sàn, nền sàn cao hơn mặt đất 0,7- 1,5m, chiều dài nhà 15- 20m, lợp mái tranh, vách dựng bằng nứa đan lại thành tấm, sàn tre hoặc nứa, lồ ô. Trong nhà dài, người ta phân chia thành gian, tính từ cửa sau ra tới cửa trước. Các gian phía sau là nơi sinh  hoạt riêng của từng gia đình. Mỗi gia đình một gian ngăn cách nhau bằng phên nứa, có bao nhiêu gia đình thì có bấy nhiêu gian và bấy nhiêu bếp. Ở giữa nhà là gian lớn, khu giữa gian lớn và gian riêng của mỗi gia đình là gian nữ. Gian nam là gian sau gian lớn, nằm gần cửa trước.
Người Êđê trước đây sống theo gia đình lớn hoặc theo dòng họ. Nhà dài là nơi cũng sinh sống của nhiều thế hệ. Đó là nơi diễn ra những sinh hoạt hằng ngày hay tụ họp mọi người dịp đặc biệt. Thường thì trong một đại gia đình có 2- 3 thế hệ với 4- 7 gia đình cùng sống.
Khi mùa vụ xong xuôi, đến mùa ăn năm uống tháng hay dịp lễ cúng,… mọi người trong gia đình hay họ hàng gần đó sẽ tụ họp ở gian lớn, buộc rượu cần, mổ heo mổ gà chung vui.
Tuy nhiên hiện nay, đời sống của đồng bào Êđê ở các buôn làng đã khác. Các gia đình không còn sống chung nhiều thế hệ nữa mà tách hộ ở riêng. Do vậy nhà dài không còn được dựng lên như trước.
Mặt khác, những ngôi nhà cũ đã được xây dựng trước đó cũng không còn được chăm lo tu sửa nên ngày càng xuống cấp, mối mọt, đổ nát và bị dỡ đi. Thậm chí  có những ngôi nhà còn chắc chắn nhưng do các gia đình đã ra riêng nên không mấy người ở, các thành viên khác phá đi lấy đất dựng nhà mới hay sử dụng vào việc khác.

Một trong số ít căn nhà còn lại ở Buôn Ky
Đến buôn Ky (Buôn Ma Thuột, Đăk Lăk) ngày nay, thật khó để tìm được ngôi nhà dài nguyên vẹn ở đây. Hiện cả buôn có chưa đến 20 ngôi nhà còn hiện diện. Đa phần những ngôi nhà này đã xuống cấp, xập xệ, cột vách lỗ chỗ. Hình dáng nhà cũng không còn nguyên dạng mà biến tấu thêm, xây dựng lại, đắp thêm gạch hoặc trở thành nhà kho, nằm khép nép bên ngôi nhà xây.
Nhà dài bây giờ cũng không còn là nơi sống chung của nhiều gia đình như trước. Chỉ có người già là còn thiết tha với ngôi nhà cũ, người trẻ lập gia đình rồi ra ở riêng. Nhà dài trở nên bất tiện cho việc sinh hoạt, đi lại. Việc xây dựng nhà dài cũng trở nên khó khăn vì vật liệu xây nhà không dễ kiếm như trước. Trong khi cát, xi măng có sẵn và dễ mua với giá rẻ hơn. Nhà xây cũng tiện nghi và chắc chắn hơn, thuận tiện hơn. Bởi vậy các gia đình lựa chọn nhà xây như một điều tất yếu. có lẽ vì vậy mà các buôn đồng bào Êđê tại Đăk Lăk, nhất là các buôn gần phố như buôn Ki, AlêA, AlêB,… bóng dáng nhà dài gần như không còn hiện diện, số lượng còn lại chỉ đếm trên đầu ngón tay.
Một số buôn như Ko Dhông, Ea Kao (Buôn Ma Thuột) còn giữ được quy hoạch nhà dài nhưng chủ yếu dùng phục vụ du lịch là chính. Còn các sinh hoạt chính của gia đình hàng ngày đa phần vẫn diễn ra trong ngôi nhà xây kiên cố- ngôi nhà chính của gia đình.
Mặc dù chính phủ, Đảng và Nhà nước quan tâm triển khai các dự án bảo tồn văn hóa, trong đó có nội dung bảo tồn kiến trúc nhà dài nhưng hiện tại những ngôi nhà dài trong các buôn vẫn đang trở nên thưa thớt dần và có nguy cơ mất đi vĩnh viễn. đây là điều đáng buồn, bởi theo đó những giá trị truyền thống có nguy cơ mất đi, trẻ con không còn biết đến những câu chuyện cổ tích, những làn điệu khan, kứt, ay-ray vẫn được các bà, các cụ ngân nga bên bếp lửa mỗi đêm. Mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, giữa các thế hệ không còn gắn bó như trước. Và càng ngày, những ngôi nhà dài đang dần trở nên vắng bóng trong sự hiện diện và phát triển của buôn làng.
                                                                                                   H Xíu H Mok

29 tháng 6, 2013

Tin văn nghệ: Trại sáng tác Gia Lai 2013

Hồng Chiến
=>> Xem bài đăng gốc
Liên hiệp toàn quốc các Hội VHNT Việt Nam tổ chức Trại sáng tác Văn học - Nghệ thuật tại thành phố PleKu, tỉnh Gia Lai dành cho hội viên các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên, thời gian 12 ngày. Từ 14 giờ ngày 6 tháng 6, ban tổ chức đón trại viên tại khách sạn Tre Xanh, sáng ngày 7 tháng 6 chính thức khai mạc.

Hội Văn Nghệ Đắk Lắk cử ba hội viên tham dự trại là:

1/ Nhà Văn H'Xíu Hmok (ảnh dưới)


2/ Nhà thơ Nguyễn Văn Thiện (ảnh dưới)


3/ Nghệ sĩ nhiếp ảnh Võ Duy Thương

Mùa mưa lại về

H’XÍU HMOK 

Cơn mưa đột ngột kéo về đổ đầy những con đường, ào ào tuôn xuống cống xả đen ngòm đầy rác rưởi. Rác nổi lềnh bềnh ầm ào cuốn theo dòng nước cống chảy mãi về đâu không biết. Mùi hôi thối bốc lên nồng nặc. Chẳng mấy chốc con đường ngập nước lênh láng. Nước dâng lên sát mép liếm dần những khoảng sân nhỏ hẹp nhoài mình ra lề đường. Hàng xe nối đuôi nhau bì bõm trong nước, có chiếc tắt máy, người chủ phải khổ sở lội đôi giày da dắt xe. Cô ngồi bên bậu cửa sổ giả gỗ nhìn qua ô kính vuông, đầu tựa tường tay bó gối. Bên lan can những hạt mưa vẫn tí tách rơi. Mùa mưa lại đến. Cơn mưa phố thị ồn ào không đủ làm mát ngọn cây xấu già khẳng khiu vươn cành. Hạt mưa đổ vội vã lên chiếc lá lăn tròn rồi rớt xuống mặt đất chẳng kịp rửa sạch hạt bụi mịn bám dai. Mưa về mang theo nỗi buồn man mác, những kỉ niệm ùa về trong ki ức về mùa mưa cũ và về anh.

Một chiều tháng năm, trên con đường vắng nắng đang vàng bỗng gay gắt rồi mây đen kéo đến khôg báo trước và mưa trút nước gần như nghẽn cả con đường. Cô bước bộ trên con đường, tay xách cây dù tím cánh sen. Không nhớ ai đã dặn cô nên mang theo dù mỗi khi đi bộ, ban đầu cô còn cười thầm vì sự quá ư cẩn thận đó nhưng giờ mới thấy hết tác dụng.

- Bạn gì ơi cho tôi đi nhờ dù một đoạn được không?

Cô giật mình ngoảnh lại. Một thanh niên đứng dưới mái hiên ngôi nhà hoang tay xách cặp tab có vẻ vội vã đang nhìn cô, ánh mắt của sự cầu cứu giúp đỡ hiện rõ trên nét mặt. Cô bỗng rùng mình cảm thấy như có luồng điện chạy dọc sống lưng, trong đầu bỗng nghĩ vu vơ không rõ. Đường vắng thế này, lỡ…? một ý nghĩ chợt hiện ra trong đầu rồi trôi nhanh lơ lửng, cô tặc lưỡi.

- Tôi có chút việc qua gần đây nhưng trời mưa to quá không đi được. Ở đây chẳng có chỗ nào bán áo mưa cả mà tôi đang vội…

Anh chàng như đang thanh minh trước vẻ nhìn chăm chú nhưng cũng đầy nghi ngờ của cô.

- Tôi có hẹn với bạn…lần đầu gặp mặt mà để người ta đợi thì không hay mà đến với bộ dạng ướt lướt thướt thì cũng không ra sao cả, …bạn có thể giúp tôi chút được không?

Thái độ chân thành của người thanh niên khiến cô bối rối. Có lẽ anh ta là người tốt, cô nghĩ thầm rồi cũng gật đầu đông ý. Mưa vẫn rả rích rơi, cây dù nhỏ không đủ che cho cả hai và khó tránh khỏi là họ vẫn run lên vì lạnh và ướt khi mưa hắt vào mặt.

- May nhờ có bạn không thì thật là…ngại quá khiến bạn cũng bị ướt lây rồi. Mà sao bạn lại qua đây một mình vậy, đường vắng vẻ vậy không sợ sao?

- Thú thật đây là lần đầu tôi qua đây nên cũng không biết đường vắng như vậy, chẳng là có người bạn nhờ tôi chuyển giúp tài liệu công việc vì cô ấy bận không đưa được.

- Có phải tài liệu về công tác từ thiện của tỉnh kì vừa rồi không? Vậy chắc bạn là Vân Anh đúng không?

- ủa sao anh biết, có phải anh là người được giao nhận tài liệu đúng không. Vậy là tốt rồi, tôi cứ lo…

- ôi tôi phải cảm ơn bạn mới đúng không thì không biết thế nào vì thời gian gấp quá không hoãn được…

Mưa đã ngớt nhưng câu chuyện vẫn còn tiếp tục trong quán nhỏ bên đường.

Lần đầu cô đã gặp anh như thế, tình cờ không hẹn trước. Muà mưa qua mau và cuộc gặp tình cờ ấy có lẽ cũng đã chìm vào quên lãng giữa dòng đời với những vòng quay xuôi ngược. Đến một ngày. Đó là vào dịp sinh nhật cô tròn 24 tuổi. Trời hôm nay thật lạ, đang nắng đẹp bỗng mưa rả rích từ chiều rồi kéo dài mãi đến tối. Mấy người bạn mời không thấy bóng ai. Cô ngồi buồn nhìn chiếc bánh kem hai tầng đặt trên bàn ủ rũ. Người bạn thân an ủi mà càng thấy nản : “thôi bồ đừng buồn mà, chắc tụi nó bận quá không đến được, à không mưa to quá chưa tới kịp, có khi đang vất vả dắt xe lội mưa cũng nên ấy chứ..”

Đính đoong. Tiếng chuông cửa reo vang. Hình như các bạn đến đó. Cô nhảy khỏi ghế ra mở cửa. “Một… hai… ba, chúc mừng sinh nhật”. Bó hồng đỏ chúm chím khoe sắc lấm tấm đọng những giọt mưa. Cô ngạc nhiên. Anh trong chiếc áo mưa, môi tái đi vì lạnh đang mỉm cười.

- Xin lỗi tôi đến trễ, hi vọng chưa muộn lắm. À quên, chúc mừng sinh nhật bạn, tặng bạn.

Cô thoáng ngạc nhiên. Người bạn thân vội đỡ lời :"mời anh vô nhà, ơ kìa Vân Anh sao đứng mãi thế, là mình mời anh Vũ đến đó….”

Nhỏ bạn hích tay làm cô giật mình. Sinh nhật này thật đặc biệt và cô bỗng cảm thấy có cái gì ấm áp đang ngự nơi trái tim.

Rồi từ bao giờ hai người trỏ nên thân thiết hơn, bỗng nhận ra giữa họ có nhiều điểm giống nhau đến thú vị. Hai năm qua đi trong sự ngọt ngào khi tình yêu chớm nở. Cơn mưa đến rồi đi không mang theo hơi lạnh bởi trong vòng tay anh cô cảm thấy sự ngọt ngào và ấm áp của tình yêu. Họ đã nghĩ tính đến chuyện tương lai, tưởng chừng như mọi chuyện đã yên bình và không gì ngăn trở tình yêu của họ.

Mùa mưa lại đến, bão cũng theo về. Miền trung oằn mình hứng nhận những cơn thịnh nộ. Anh theo đoàn tình nguyện lấy tin làm phóng sự.

- Anh nhớ cẩn thận đó, đừng liều quá mà nguy hiểm…

- Anh biết rồi, em đừng lo lắng quá. Ở nhà ngoan nha vợ yêu của anh.

Đêm trời không mưa mà sấm nổi đì đùng, chớp vạch ngang dọc trên nền đêm xam xám lóe sáng từng ô cửa. Cô nằm ôm gối mà không sao ngủ được, cảm thấy tâm trạng bất an, tim đập loạn nhịp. Ngoài kia gió rít những ngọn cây va vào nhau thùm thụp. Đêm qua đi trong sự mệt mỏi rã rời, nỗi đau và niềm hi vọng mong manh hòa vào nỗi tuyệt vọng. Anh đi mà khôn trở lại. Cô nhận được tin dữ anh mất tích trong dòng nước xoáy khi cố cứu một em bé vào bờ rồi bị chuột rút . Trái tim cô vỡ vụn từng mảnh trong nỗi đợi chờ và niềm tin mãnh liệt rằng anh sẽ trở về. Nhỏ bạn lắc đầu nhìn cô bạn thân tiều tụy từng ngày mà không biết phải làm sao. 
Cô đến miền trung nơi anh đã ra đi ngày ấy. Sóng biển vỗ nhẹ bờ cát trắng thì thào như lời ru dịu êm miên man trên vành nôi. Đứa bé ngày nào giờ đã chập chững biết đi lon ton chạy theo mẹ trên bãi cát, những cái bóng khẳng khiu đổ dài trên mặt đất rồi khuất dần xa xa. Cô nuốt nước mắt nhìn xa xăm, thoáng thấy bóng anh như hiện ra sau đồi cát đang mỉm cười, đôi mắt nhìn cô đầy âu yếm.

Mùa mưa đến mang anh đến với cô cùng niềm hạnh phúc và giấc mơ đẹp. Rồi cũng chính cơn mưa âm thầm mang anh xa khỏi cô không một lời sau cuối. Ngoài kia mưa vẫn rơi, ầm ào và vội vã. Anh ơi mưa lại về rồi đó, anh có thấy không?

28 tháng 6, 2013

TẾT VỀ TRÊN BO HENG

Quãng đường rừng gập ghềnh leo dốc lội mương lổm nhổm ổ voi ở gà đưa đoàn chúc tết của Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Đăk Lăk đến thăm đồn biên phòng Bo Heng (đơn vị 747, Bộ đội Biên phòng Tỉnh Đăk Lăk) vào buổi trưa cuối năm. Quang cảnh yên ả tĩnh lặng, không có vẻ gì là không khí tết đang tràn qua nơi đây trong những ngày giáp tết này. Nhưng các cán bộ chiến sĩ cũng đang có những chuẩn bị cho đơn vị cùng đón một cái tết ấm cúng và không quên nhiệm vụ cao cả của mình, giữ vững vùng biên cương tổ quốc.
Được thành lập từ 25/3/1981, sau hơn 20 năm xây dựng và phát triển, vượt qua nhiều khó khăn thiếu thốn, đồn biên phòng Bo Heng đã và đang tiếp tục hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, bảo vệ bình yên vành đai biên giới giáp với nước bạn Cam Pu Chia tại địa bàn mình phụ trách- đường biên cột mốc số 46, tuần tra hàng ngày và phối hợp với đơn vị nước bạn giao ban định kì, tuần tra song phương hàng tháng phát quang đường biên giới giữa hai nước. Theo thiếu tá Bùi Đình Hướng- chính trị viên phụ trách đồn biên phòng, hiện đơn vị đã hoạch định xong phần cắm mốc biên giới Việt Nam- Cam Pu Chia trên địa phận phụ trách của đơn vị. Bộ phận tuần tra kiểm soát của đơn vị được chia thành ba tổ: một tổ tuần tra, một tổ mật phục và một tổ truy quét. Các tổ này phối hợp với nhau dưới sự điều hành của Ban chỉ huy đơn vị.

Các chiến sĩ chụp hình lưu niệm cùng đoàn VHNT đến chúc tết

Trong không khí cả nước đón chào tết cổ truyền của dân tộc, đồn biên phòng Bo Heng cũng đang có những sự chuẩn bị cả về vật chất và tinh thần cho các chiến sĩ đón xuân. Được sự quan tâm của Bộ chỉ huy, cộng với sự tích cực tăng gia sản xuất của các chiến sĩ, đơn vị đã thực hiện tốt công tác chăm lo đời sống chiến sĩ, từng bước ổn định để chiến sĩ an tâm công tác. Với vườn rau 50 triệu đồng do Bộ chỉ huy đầu tư để đẩy mạnh vườn tăng gia, 35 con bò và đàn heo đơn vị tự nuôi đảm bảo nguồn lương thực thực phẩm cho toàn đơn vị trước trong và sau tết. Đơn vị cũng chuẩn bị gạo nếp đậu xanh và các nguyên liệu cần thiết khác để gói bánh tết, góp phần tạo không khí xuân thêm ấm cúng. Một số chiến sĩ được về quê đón tết cùng gia đình. Đây là niềm vui lớn đối với những chiến sĩ đã công tác lâu năm tại đơn vị hay những chiến sĩ xa quê ít có cơ hội về thăm gia đình nay có dịp được đoàn tụ đón cái tết sum họp. Ngoài ra, đơn vị cũng được nhiều tổ chức, đơn vị cũng đến thăm và chúc tết, thăm hỏi động viên tinh thần các chiến sĩ.
Giao lưu văn nghệ mừng xuân

Vui xuân đón tết nhưng không quên nhiệm vụ, quán triệt tư tưởng và tinh thần đó, các chiến sĩ của đơn vị vẫn ra sức làm nhiệm vụ của mình. Đồng chí Bùi Đình Hướng cho biết thêm, ngoài số chiến sĩ được về quê đón tết, đơn vị vẫn đảm bảo trên 70% quân số có mặt làm nhiệm vụ trong và sau tết cũng như hoàn thành tốt kế hoạch và nhiệm vụ được Bộ chỉ huy giao phó, tuần tra canh giữ biên cương tổ quốc, phối hợp với nước bạn Cam Pu Chia và có những sự giúp đỡ cụ thể đối với những thiếu thốn của nước bạn để tăng thêm tình đoàn kết hữu nghị của các đơn vị hai bên đóng quân trên địa bàn.
Một cái tết mới đang về trên mọi miền tổ quốc, kính chúc các đồng chí chiến sĩ đang miệt mài với công việc của mình sẽ có một cái tết thật ý nghĩa và một mùa xuân nhiều niềm vui.
Ghi chép nhân chuyên đi thăm và chúc tết đồn biên phòng Bo Heng 18/1/2012

H Xíu H Mok

TÂM SỰ NÀNG MỴ CHÂU

Câu chuyện này tôi từng viết trong bài văn cô giáo ra hồi cấp 3, đề tài là "Đặt mình là Mỵ Châu kể lại truyền thuyết Mỵ Châu - Trọng Thủy, qua đó phát biểu cảm nghĩ về vua cha". 
Có lẽ theo thời gian khi con người ta lớn lên, ắt hẳn cách nhìn, cách nghĩ  sẽ có hơi khác thuở còn thơ bé, nhưng với tôi, câu chuyện này có chút gì đó sâu sắc, nhất là ở khía cạnh tình phụ tử, bởi thế nó khiến tôi ấn tượng mãi.                                                                An Phương
---------------------------------------------------------------

Ngồi đây ngắm nhìn thế giới xung quanh nghi ngút khói nhang. Ngày ngày, từng đoàn người ra vào ngắm nhìn, thắp nén nhang cầu phúc cầu an cho bản than và gia đình, tôi lại nhớ đến ngày xưa thưở còn thiếu nữ, sống êm đềm trong cung điện nguy nga bên người cha yêu dấu thật hạnh phúc biết bao. Giá như ngày đó tôi chín chắn hơn, sáng suốt và cảnh giác hơn thì có lẽ tôi đã không phạm sai lầm khủng khiếp như thế, có lẽ tôi và cha sẽ không bị dồn vào con đường cùng như thế. Có lẽ…
Ngày ấy tôi là công chúa yêu kiều con vua An Dương Vương. Là công chúa, phận nữ nhi, tôi ít tham gia triều chính, nếu không muốn nói là phận nữ nhi khuê các chỉ biết nơi khuê phòng. Cuộc sống của tôi êm đềm nơi hậu cung, vì thế cũng chẳng biết nhiều về chuyện đất nước, cũng không hiểu nhiều về cha. Tôi chỉ biết cha là vị vua yêu nước thương dân, chăm lo cho bách tính. Tôi thấy tự hào về điều đó. Nghe đâu cha tôi đang chuẩn bị xây dựng một khu thành rộng, nơi cả đất nước chúng tôi sẽ định cư lâu dài, bách dân xây dựng cơ nghiệp muôn đời. Nhưng không hiểu cớ gì mà khu thành xây mãi không được, cha bèn lập đàn trai giới cầu đảo bách thần giúp sức. Được thần linh giúp đỡ, thành đã xây xong trong sự mừng vui của bách tính và triều đình.
Khi chuyển về nơi ở mới, tôi ngồi kiệu nên không nhìn hết cảnh sắc tòa thành, không rõ hình dạng thành ra sao, chỉ biết thành rộng lắm, kiệu rước phải đi một quãng đường rất dài, tôi ngồi trong mà mệt mỏi toàn thân mới tới phòng của mình. Thành này tên gọi Loa thành vì nó được xây dựng xoắn như hình trôn ốc, thành rộng tới hơn ngàn trượng. Tôi nghe đám tì nữ kể thế. Cũng từ khi xây thành xong, có vị thần rùa- người đã giúp vua cha xây thành, ở lại giúp cha chống giặc giữ yên bờ cõi. Tôi chưa gặp ông ta bao giờ nên chẳng rõ hình dáng ông ta thế nào. Chỉ nghe kể là sau 3 năm giúp cha giữ thành, vị thần rùa ấy từ biệt cha trở về chốn biển cả. Trước khi đi, ngài trao cho vua cha một thứ bảo bối dùng cho việc bảo vệ đất nước. Tôi thì không rõ thực hư thế nào, chỉ nghe bảo đó là chiếc nỏ thần, nó có hình dạng chiếc nỏ thật, nhìn cũng khác lạ, tôi cũng chỉ được ngắm có một lần khi theo cha vào căn phòng nơi cất giữ báu vật. Thật khó tin nhưng quả thật, chiếc nỏ thần ấy có phép màu nhiệm, quân Đà tấn công vào thành đã bao lần mà chưa lần nào thắng nổi vòng quân tuyến ngoài chứ đừng nói việc tấn công vào cổng thành. Vua cha nói đó là nhờ có nỏ thần bảo vệ nên cả Loa Thành mới được bình yên như thế.
Sau này, bên quân Đà đánh mãi không thắng thì đành cho người sang cầu hòa, kết giao duyên ước bởi khi đó tôi cũng đã đến tuổi cập kê. Tôi trở thành con dâu họ Triệu, lấy chàng Trọng Thủy làm chồng. Chàng về ở rể, làm phò mã, trợ giúp vua cha quản việc nước. Một thiếu nữ buổi đầu duyên ước, tôi đắm say trong tình yêu mới. Chàng rất mực thương yêu, cha cũng cưng chiều tôi.
Một hôm, đang dạo chơi trong vườn hoa, chàng Trọng Thủy thỏ thẻ, nghe nói vua cha có bảo bối quý có công giữ nước, chàng muốn được chiêm ngưỡng cho thỏa trí tò mò và hiếu kì. Lời chàng nhẹ như gió và ngọt ngào như tiếng nước róc rách bên tai, thân làm vợ chàng làm sao từ chối cho được. Tôi đồng ý dẫn chàng vào xem bảo bối, dặn chàng cẩn thận kẻo làm hư lại bị vua cha trách phạt. Chàng nâng niu bảo bối, ngắm nhìn tỉ mỉ cẩn trọng, ra điều suy tư lắm. Chắc cũng khó tin chiếc nỏ kia thần kì đến thế.
Thời gian trôi qua, chàng ngỏ ý muốn được về thăm vua cha bên nước Đà, cũng lâu rồi 2 cha con họ không gặp nhau, chàng làm rể cũng đã lâu chưa trở về thăm cha. Trước khi lên đường, chàng hỏi tôi “tình vợ chồng chung thủy, tình cha con không thể dứt bỏ. Nay ta về thăm cha, lỡ hai nước bất hòa, làm sao đôi ta trùng phùng?”. Câu hỏi bất ngờ của chàng khiến tôi bất an, đẫm lệ đáp rằng: “Thiếp phận nữ nhi, gặp cảnh chia li thì đau xót vô cùng….Thiếp có chiếc áo lông ngỗng luôn mang bên mình, đi tới đâu thì rắc tới đó. Chàng cứ theo dấu mà đi, tới đó sẽ tìm được thiếp”. Thế rồi chàng đi, tôi ngày đêm mong ngóng mà chưa thấy chàng về.
Đất nước lại chiến tranh, thành quách tán loạn. Một hôm, đang trưa nắng nôi, vua cha truyền lệnh hai cha con sẽ phải rời thành ngay lập tức. Con ngựa trắng cha hay cưỡi đi săn hôm nay được đóng cương vội vàng, cha đặt tôi ngồi lên lưng ngựa cùng người rồi phóng ngựa lao đi. Cha thúc ngựa phi nước đại cả quãng đường dài, ngựa phi như bay. Cha không nói câu nào, dường như người đang rất căng thẳng, vội vã và lo lắng. Có điều gì đó không ổn chăng? Tôi không dám hỏi, chỉ biết bám chặt vào sau, nép mình vào cha. Chợt nhớ đến Trọng Thủy, tôi nhẹ rứt từng chiếc lông trên tấm áo đang mặc, rải khắp đường đi, hi vọng chàng nhận ra mà lần theo dấu. Ngựa chạy quãng đường dài thì cũng thấm mệt, cha dừng ngựa bên bờ biển. Trời nhá nhem tối, cảnh xung quanh vắng lặng không một bóng người. Biển tối sầm một màu xám xịt ù buồn, gió lặng đến rợn người. Cha xuống ngựa, đi qua đi lại, đôi mắt người lướt khắp một lượt như đang tìm kiếm ai đó hoặc điều gì đó. Chợt người gọi to, mắt hướng về mặt biển, “Sứ Thanh Giang, mau đến cứu ta”. Mặt biển phẳng lặng hiền hòa bỗng nổi sóng dữ dội. Gió cuộn sóng dâng lên cao đến tận chân trời, phả vào mặt cảm giác lạnh tê tái. Từ những ngọn sóng, một con rùa vàng to lớn, dáng đứng  như người, sừng sững hiện lên hiên ngang đường bệ. Rùa vàng hét lớn, tiếng hét như tát vào mặt tôi và cha, “kẻ ngồi sau lưng ngươi chính là giặc đó”. Tôi chết trân nhận ra rùa vàng biết nói tiếng người, càng sững sờ không hiểu điều gì vừa xảy ra, câu nói có ý nghĩa gì? Tôi quay sang cha tìm lời giải thích thì bắt gặp ánh mắt người nhìn tôi một cách vô cũng dữ tợn. Ánh mắt người như hai ngọn lửa hừng hực cháy thiêu đốt tôi đến tận tâm can. Cha nhìn tôi, cảm giác ông đang dồn toàn lực vào thanh kiếm sắc mới rút ra, lưỡi kiếm sắc lẹm, sang loáng trong màn trời nhá nhem tối, dường như có tia chớp nào vừa xoạt ngang qua đây. Tôi bàng hoàng ú ớ… Thanh kiếm giơ lên cao rồi đột nhiên chém xuống, tôi chỉ kịp thốt lên trong đau đớn. “ Thiếp phận nữ nhi, nếu có lòng mưu phản hại cha chết sẽ hóa thành tro bụi… còn nếu một lòng trung hiếu mà bị người dối lừa thì chết sẽ hóa thành châu ngọc để rửa mối nhục thù….
Thời gian trôi qua rất lâu, tôi hồi tỉnh và hiểu ra vấn đề, khi ấy tôi đã ở dương gian. Trước mắt tôi là những con người xa lạ, họ đang thắp nhang, cầu khấn lầm rầm, có người ngước nhìn. Ánh mắt họ long lanh sau làn khói tỏa ra nghi ngút. Những đứa trẻ quây quần bên một người râu tóc bạc phơ, chắc đã già lắm. Ông đang kể câu chuyện “ngày xửa ngày xưa…
Câu chuyện kể về người con gái đang ngồi trên cao kia, người đã được chồng nàng mang về đây sau khi chết bởi lưỡi kiếm của người cha. Chàng Trọng Thủy nặng tình với người vợ, ngày đêm mong nhớ nàng, rồi thì chàng đã trẫm mình ở cái giếng kia. Có thể họ đã gặp được nhau ở nơi nào đó. Vua cha sau đó được rùa vàng rẽ nước đi xuống biển, bây giờ ở đây chỉ còn thờ tự người.
Tôi nghe câu chuyện về cuộc đời mình mà lòng dâng lên sự hối hận, mọi sự giờ đã muộn màng, không còn có thể cứu vãn. Tôi không trách Trọng Thủy mà chỉ trách bản thân mình quá ngây thơ, không tỉnh táo. Tôi càng không trách cha dù người đã đem cái chết đến cho tôi mà chưa nghe một lời giải thích. Dù sao đi chăng nữa, người vẫn mãi là cha tôi.

26 tháng 6, 2013

HẠ ƠI CÒN KHÔNG?


Gốc bàng già trái rụng
Lá khô phủ sân trường
Không còn bóng áo trắng
Thấp thoáng trong làn sương

Trống thôi không reo nữa
Nhường lại khúc ve cầm
Bảng đen còn nằm đó
Nét phấn giờ lặng câm

Ngày trôi cứ âm thầm
Lướt nhẹ tựa dòng sông
Thế rồi mùa hạ đếm
Áo học trò còn không?
-An Phương-
( H Xíu H Mok)

CUỐI CẤP RỒI, THÁNG SÁU


Tháng Sáu tới
Tiếng ve kêu hắt cả ánh nắng hè
Màu phượng đỏ rực một trời thương nhớ
Cuối cấp rồi
Ánh mắt ai mộng mơ...

Vẫn nhớ lắm những ngày còn trên lớp
Ta với bạn- hai đứa ngồi chung bàn
Nào thì me chua, xoài, ổi, cóc
Giờ học bài hai đứa lén nhâm nhi
Để rồi khi bất chợt cô giáo gọi
Mặt ngường ngùng, hai đứa, dạ... thưa...

Sẽ nhớ lắm những giờ ngồi tự học
Có đứa buồn
Thơ thẩn ngồi... làm thơ
Đứa còn lại đọc được rồi châm chọc
Rồi cùng cười khiến cả lớp ngẩn ngơ

Tuổi học trò nhiều kí ức trẻ thơ
Chợt giật mình, ô hay, rồi, tháng Sáu
Và cuối cấp bỗng đến như vồ vập
Đẩy ta rời những kỉ niệm năm xưa

H Xíu H Mok

MIỄN LÀ CÓ ĐỦ TÂM THỨC NHẬN LÃNH

Năm 2011, Hội nghị những người viết văn trẻ ở Tuyên Quang, Tây Nguyên có ba gương mặt dân tộc thiểu số: Niê Thanh Mai – Êđê (Đắk Lắk), Hoàng Thanh Hương – Mường (Gia Lai), Y Việt Sa – Rngao (Kon Tum). Tuy ít ỏi nhưng vẫn tạo được sự chú ý trên văn đàn. Hy vọng những hội nghị sau, sẽ có thêm những gương mặt mới. Đầu Xuân Quý Tị, xin được “điểm danh” chia vui với bạn bè.

Xem =>> bài đăng gốc tại đây

Hè 2004, Hội VHNT Đắk Lắk tự đứng ra mở lớp bồi dưỡng văn thơ cho học sinh phổ thông người dân tộc thiểu số trong tỉnh. Sau thất bại của việc rất nhiều năm mải miết kiếm tìm cá#c nhà văn đã từng có thời công tác, hay chiến đấu ở Tây Nguyên, để “dụ khị” mời viết, thậm chí là sẵn sàng “đặt hàng” để đạt được mơ ước có tác phẩm văn học lớn cho Đắk Lắk, thì quyết định hai năm một lần, mở lớp hướng dẫn viết văn cho học sinh dân tộc, nhận được sự đồng thuận rất cao của Ban chấp hành Hội Đắk Lắk nhiệm kỳ III.
Để rồi sau đó văn phòng Hội mỗi người tất bật một việc: nào lập danh sách tất cả các trường phổ thông, trường nội trú vùng dân tộc để gửi thông báo và tuyển chọn, nào “chạy” kinh phí, thuê, mượn chỗ ăn ở, lớp học, nào lên lịch mời ai, giảng gì, cho các em đi thực tế, tham quan ở đâu tạo được hiệu quả tốt nhất… Khởi động từ tháng tư, để đến tháng 7 mới gọi được các em về Buôn Ma Thuột. Đủ quân số 25 theo dự kiến, ai nấy mừng hết lớn. Gần một nửa là học sinh của Trường phổ thông trung học dân tộc nội trú Nơ Trang Lơng, tuyển chọn được là nhờ ở lợi thế giáo viên văn “nằm vùng” và sự nhiệt tình của cô giáo Niê Thanh Mai, người cũng đã được chính Hội ươm gieo từ hồi còn học lớp sáu trong các trại viết Hạ Xanh. Số còn lại đủ cả: Jrai, Mường, Tày, M’nông, Thái… của các huyện.
Năm ấy, chúng tôi không chỉ cho các em đi tham quan Đà Lạt, mà còn phối hợp với Phòng văn hoá huyện Cư M’Gar, tổ chức một đêm giao lưu với Trại sáng tác thiếu nhi Núi Hoa, cùng nghe các nghệ nhân Êđê kể Khan. Những giọng hát - kể trầm ấm, câu chuyện nửa thực nửa hư của một thuở hoang sơ xa lơ xa lắc, cất lên trong ánh lửa bập bùng, khói bếp mờ ảo trên nhà sàn dài… quả thật đã ghi được dấu ấn khó phai trong tâm hồn và ký ức của các em ngày ấy. Để rồi sự mạnh dạn của lớp tác giả đi trước, khuyến khích các em viết bằng hai thứ tiếng, vẫn còn có hiệu quả đến hôm nay, dù đã qua bảy năm, bốn lần mở lớp. Những H’Phi La, H’Wê Ra, H’Siêu, H’Xíu… được tuyển chọn trong tập này, chính là kết quả của năm 2004 ấy.
Thoát ra khỏi cái bóng non nớt với những câu chuyện về nhà trường, thầy cô, bạn bè, vật nuôi, thậm chí cả cái “môtip” cũ kỹ về trẻ em lang thang, hoàn cảnh gia đình ly tán… năm nào cũng có, vì chưa biết mình có sở trường sở đoản gì…; những H’, nhưng Y của buổi đầu ấy, nay có em đã ra trường, có em còn ngồi trên giảng đường trường đại học, nhưng giọng văn đã già dặn hơn, những vấn đề các em quan tâm đến cũng đa dạng hơn, ngoài tình yêu vốn là chuyện muôn thuở của giới cầm bút. Và tuy vẫn còn ngẫu hứng với cả thơ lẫn văn xuôi, nhưng những cây bút tinh khôi ấy cũng đã bắt đầu định hình cho dòng chảy ngòi bút của mình. Tôi không chỉ# đọc sáng tác, mà còn được đọc khoá luận của một vài em đã từng qua những trại sáng tác ngày ấy, không biết có “vơ vào” không, nhưng mừng vì hiện tượng viết không trọn câu, dùng sai cả chấm phảy… một trong những lỗi khá phổ biến của thanh niên người dân tộc trong cách viết, cách nói, dường như ít có.
Có thể thấy Hoàng Nhật Rlayang (Đắk Nông), H’Phi La Niê, H’Lứt Ê Ban, H’Xíu H’Mok (Đăk lăk ), cùng với Ksor Bi Tô (ở Gia Lai), Đinh Su Giang (Kon Tum)… đã rõ nét hình thành những cây bút cần mẫn gieo trồng trên mảnh đất đỏ màu mỡ của cánh đồng văn xuôi Tây Nguyên. Y Du La, H’Siêu Buôn Yă (Đắk Lắk) và cả Y Việt Sa (Kon Tum) nữa, thả tâm hồn và trí tưởng tượng bay bổng của mình trên những dòng sông thơ, chảy suốt đôi bờ sông vợ - Krông Ana, sông chồng- Krông Knô, hay luồn qua “chiếc tù và” Đăk Bla, để hoà nhập vào Srê Pôk, Sê San hùng vĩ cùng xuôi về sông Mẹ Mê Khoỏng.

Trại sáng tác hè 2008 đi thực tế tại Khánh Hòa

Theo năm tháng, sự va chạm với cuộc sống hiện đại giúp chuyện của các em đã có mâu thuẫn, có chi tiết, có văn, biết vận dụng vốn hiểu biết về văn hoá dân gian tộc người làm trang sức. Những vấn đề thời sự như người dân tộc Tây Nguyên dại dột nghe kẻ xấu vượt biên (Người trở về – Hoàng Nhật), tâm tư và lối sống của lớp trí thức trẻ tương lai trên các giảng đường đại học (Phía sau cánh cửa – H’Phi La, Nơi ấy có tình yêu – Hoàng Nhật, Áo dài – H’Wê Ra…), cơ chế thị trường và lối sống hiện đại, tây hóa tác động lên nếp nghĩ, lối sống của thanh niên các buôn làng (Con ma gỗ,H’Lem đã về – H’Phi La), việc gìn giữ vốn văn hóa truyền thống của tộc người (Bến bờ yêu thương – H’Wê Ra, Quả bầu – H’Lứt)… được cập nhật khá đầy đủ. Hình ảnh buôn làng thân thương trong cuộc sống mới hiện lên rõ nét, với những xấu tốt của một thời “mở cửa”, giao thoa văn hóa cũng như sự chi phối của cơ chế thị trường (Đi qua nỗi đau – H’Xíu H’Mok, Hãy tha thứ cho anh – Đinh Su Giang).
Chỉ hơi tiếc rằng vốn văn hóa Việt các em gặt hái 12 năm trên ghế trường phổ thông, thêm bốn năm, thậm chí là sáu năm trên giảng đường đại học chi phối, khiến các em có đôi khi thoát ra khỏi cách nghĩ, cách nói của chính mình mà sa vào sự “Kinh hóa” ngôn ngữ, khiến thi thoảng có những câu viết “sượng”. Bên cạnh đó cách dựng chuyện của các em còn… thật thà quá, thiếu những chi tiết sống động gây hiệu quả cho người đọc. Đặc biệt là Ksor Bi Tô, sống tại buôn làng, khó tiếp xúc thêm với cuộc sống xã hội rộng hơn thông qua con đường đọc, nghe, nhìn… nên văn viết còn rất đơn giản. 
Nếu thơ Hoàng Nhật chưa có đề tài mới, cách diễn đạt cũng còn lúng túng - nhưng tôi vẫn thích khi em so sánh các tổ máy thuỷ điện của Ya Ly như “bốn quả tim chung một lồng ngực/ đập liên hồi dồn dập những vòng quay/ dòng máu không màu/ chảy liên tục trên vòm trời mơ ước” (Thuỷ điện Ya Ly). Hoặc hình ảnh nhìn từ những mảnh vụn của một chiếc gương vỡ “Chênh chếch quá khứ/ những mảnh ghép rời rạc/ có nụ cười, có đớn đau/ soi lên từ mặt đất” (Mảnh vỡ) - Thì H’Wê Ra và Y Việt Sa tỏ ra sắc sảo hơn khi tiếp cận được gần với hơi thở của đời sống thơ hiện đại. Tứ để các em chọn phát triển cảm xúc của mình đã lấp ló những khang khác, kiểu như “Bao giờ lại tỉnh giấc/ Nhánh cỏ dưới gót chân Dam San” của H’Wê Ra Niê. Hoặc “Vết thương phố xá/ Dốc đời ngược gió” của Châu Sa.
Không biết là cố tình hay chính những mất mát có thật của đời sống văn hóa truyền thống ở buôn làng ám ảnh, mà thơ các em mang những nỗi day dứt, nuối tiếc khá rõ. Dường như H’ Wê Ra hỏi chính em hay thế hệ em rằng “Đã bao nhiêu bước chân rung trên sàn nhà/ Bao nhiêu con trai, con gái buộc chỉ đòi tên/ Bao nhiêu gian đã nối dài/ Mà sao không đánh thức/ tiếng trống tiếng Ching/ Sao không gọi dậy/ Ché Túk ché Tang...cùng nhảy xoang bên bếp lửa”. Châu Sa đang trách mình, hay cũng là lời nhắc nhở những bạn trẻ đồng trang lứa, rằng “Bao năm mải mê giữa lòng đô thị/ Ngủ những giấc chập chờn mộng mị/ Tôi quên mất tiếng chiêng/ Quên gõ tơ-rưng, quên vỗ đàn klông-pút/ Tay quen cầm cây bút/ Quên rồi con suốt con thoi”. Với những bài thơ song ngữ của H’Xiu Hmok và H’Siêu Buôn Yă thì dấu ấn của đời sống tộc người còn đậm đà hơn trong những “Ru em” hay “Tiếng chày của mẹ”... May thay, nếu đấy là ý thức hệ của một lớp trí thức, văn nghệ sỹ người dân tộc của thế kỷ XXI?
Mảng thơ tình của các cây bút trẻ khá “rôm rả” với đầy đủ mọi cung bậc. Nỗi đau của mối tình đầu tan vỡ “Quay lưng – anh đi/ Em lạc trong xa lạ, hối hả/ Soi vào dòng đời/ Chẳng thấy mình đâu” (Gương vỡ – Hoàng Nhật Rlayang). Quyết liệt để có được hạnh phúc như bản chất của mẫu quyền “Nhét vào ngực anh/ Chiếc ngải màu hồng/ Em muốn/ Tình yêu anh là duy nhất cho em/ Thổi vào trong mắt anh/ Chiếc ngải màu xanh/ Thế giới chỉ anh với em” (Bùa ngải – H’Wê Ra ). Y Việt Sa xé lẻ vần thơ lục bát mà chẳng mấy khiên cưỡng, để chuyển tải sự bồi hồi bởi cách trở “Ai về bên ấy xa xôi/ Ai nghe giọt đắng bồi hồi trong tim/ Trời chiều/ Rớt/ Một tiếng chim/ Tình chiều ai rớt bên triền sông xanh”.
Đề tài quen thuộc hay xuất hiện nhất trong thơ các em, nếu không có sự tìm tòi, chắt lọc, có thể lắm, dễ rơi vào xáo mòn, là những hình ảnh về người mẹ “Đôi tay mẹ đã nhào nên bao thứ/ Nhưng chẳng khó bằng mẹ đã nặn thành con” (Tiếng chày của mẹ – H’Siêu ), “Con nhớ mẹ/ Những ngày bấm bùn trơn/ Lên đầu nguồn gùi nước” (Nhớ mẹ – Hoàng Nhật), “Mẹ ở bên: ấm áp – dịu hiền/ Ngược chiều gió – niềm hạnh phúc rất riêng/ Theo tôi mãi những ngày bé dại” (Dốc đời ngược gió - Châu Sa) ... 
Những cây bút chập chững vào con đường văn chương ở những trại viết thiếu nhi ngày nào, nay đã trưởng thành trong cuộc sống: Y Việt Sa đã thành nhà báo, hội viên Hội VHNT Kon Tum. H’Phi La Niê và H’Wê Ra Niê đã tốt nghiệp lớp đại học viết văn, cùng với H’Xíu, H’Siêu là hội viên trẻ nhất của Hội VHNT Đắk Lắk. Hoàng Nhật Rlayang, một sớm một chiều sẽ là cô bác sỹ M’nông ... 

Hội viên trẻ được kết nạp năm 2011(từ trái qua: H Xíu H Mok, Vũ  Mỹ Dung, H  Siêu Byă, nhà văn Hồng Chiến)
 
Chẳng ai ngăn cản được xúc cảm của tâm hồn thăng hoa, hy vọng việc tiếp tục viết, tiếp tục đọc sẽ giúp các cây bút trẻ Tây Nguyên hôm nay và mai sau mỗi ngày một tinh tế hơn. Bằng sự trải nghiệm và quan sát cuộc sống, các em còn có nhiều cơ hội để nhìn lại mà điều chỉnh những gì còn chênh chao, rồi dần định hình thành một tác giả. Thời gian còn rộng dài, miễn là có đủ tâm thức nhận lãnh lấy trách nhiệm và nuôi dưỡng được lòng say mê sáng tạo. Cũng như cần lắm sự tác động của các Hội, sự “tiếp lửa” của những lớp anh chị đi trước.
Rừng đại ngàn phải qua sáu mươi mùa mưa nắng mới bồi nên được cây gỗ lớn làm chiếc cột nhà rông, nhà dài. Bác Hồ còn dặn “một trăm năm trồng người”, nữa là việc gieo hạt văn chương?
Gió xuân phơi phới chở hương hoa cà phê tung tẩy ngoài khung cửa, mầm xanh của cuộc sống đang bật lên trên đất đỏ bazan. Xuân đem theo nhiều hy vọng.
SỐ: 247, Tạp chí Chư Yang Sin - tác giả H’LINH NIÊ

VƯỢT CẠN

Cuộc sống là một hành trình bất tận trên những chặng đường. Trong đó, có không ít lần ta sẽ có những chuyến vượt cạn, vượt qua thử thách khó khăn, hay đơn giản là vượt qua chính mình…
……………..

Gió thốc vào mặt những lớp bụi đỏ, nắng hắt qua ô cửa kính, phả hơi nóng oi bức. Những triền dốc gồ ghề hiện ra lờ mờ trong nắng chiều tà. Con đường đất nằm oằn mình quanh ngọn đồi, lổm ngổm ổ voi, ổ gà. Chiếc ô tô lồng lộn cật lực qua những vũng nước ngập cả nửa bánh, lắc lư nặng nề, trên mình chở đầy người và những thùng to đầy ự. Dọc đường đi, những ngôi nhà sàn lấp ló sau hàng cây, thưa thớt ẩn hiện trên những triền đồi, thưa thớt và vắng heo hút đến rợn người. Oi bức, chật chội, bụi bặm và mệt, người đau ê ẩm. Cô có thể cảm nhận rõ ràng những điều này khi vừa bước xuống xe. Nó khác hơn nhiều so với những gì cô tưởng tượng ban đầu. Dù đã chuẩn bị tâm lý, cô vẫn hơi thất vọng với những gì vừa trải qua.
-         Tất cả tập trung. Các bạn thân mến. Như vậy là sau hành trình dài leo đồi lượn dốc, nhóm sinh viên tình nguyện chúng ta đã có mặt tại địa điểm hội quân. Từ giờ đến tối các bạn sẽ có thời gian nghỉ ngơi, sắp xếp đồ đạc và chuẩn bị bữa tối. Tối nay, chúng ta sẽ sắp xếp nhân sự và phân bố địa bàn. Còn ai có ý kiến gì không? Nếu không thì các bạn giải tán tự do,...
Giọng anh Bảo oang oang trên chiếc loa tay, mọi người đã tươi tỉnh trở lại và bắt tay vào việc dọn dẹp, sắp xếp mọi thứ. Nơi nhóm tập kết là một ngôi nhà gỗ đã cũ, khá rộng, nằm lọt thỏm giữa rừng cây. Đến giúp cả nhóm còn có một số thanh niên người dân tộc, họ mặc áo thổ cẩm, nước da ngăm bánh mật khỏe mạnh rám nắng. Những bàn tay thoăn thoắt chất lại đống củi, san lấp mặt bằng trước cửa. Chẳng mấy chốc, mọi thứ đã ổn thỏa, mọi sự mệt mỏi dường như đã biến mất, nhường chỗ cho sự hào hứng đang lan tỏa nơi đây. Cô cũng cảm thấy vui hơn, hít một hơi thật sâu, lấy lại tinh thần nào. Cô mỉm cười rồi hòa vào nhóm các bạn đang tích cực dọn dẹp, phải mau lên chứ. Trời sắp tối rồi….

*                   *

*

Sinh ra và lớn lên ở thành phố, gia đình bố mẹ đều làm công chức, cô chẳng bao giờ phải làm gì ngoài học. Học chính khóa, học thêm, học đàn, học vẽ,… ngày qua ngày cô gắn bó với con chữ, cây viết. Cuộc sống cứ thế êm đềm trôi, khoảng trời bình yên một màu hồng tuyệt đẹp. 18 tuổi, cánh cửa đại học mở ra nuôi ước mơ cô ấp ôm trong những khoảng trời. Cô thích hát, thích mơ mộng và muốn được ngao du. Nhưng mẹ lại không muốn như vậy, bà muốn cô theo học y thay vì học sân khâu điện ảnh hay thanh nhạc. Cô không thể chống lại ý muốn của bố mẹ dù bao đêm khóc thầm ướt gối, tiếc cho những điều mình mong muốn. Bởi thế, cô hay ngầm chống đối ý kiến của mẹ, lảng tránh mỗi khi mẹ  muốn tâm sự với cô, cô thích tự làm theo ý mình, mẹ cứ nói, còn cô cứ cố gắng làm theo điều mình thích. Cả  đợt hè này cũng thế, dù cận kề với việc ôn thi tốt nghiệp, mẹ cố khuyên để năm tới hãy đi, cô vẫn quyết tâm đi tình nguyện. Kệ, nhất định cô sẽ đi, quyết định thế.

*              *

*

Năm học trôi qua thật nhanh, bỏ gọn những thứ cần thiết vào ba lô, sao vẫn thấy nhiều và nặng thế nhỉ. Nào thuốc đau đầu, đau bụng, thuốc cảm sốt, kem chống muỗi, chăn, màn, áo khoác,… mẹ nhét một đống đồ vào ba lô để cô đem theo. Thật là rắc rối. Cô phì cười trước sự cẩn thận đến thừa của mẹ, có lẽ với mẹ, cô lúc nào cũng bé bỏng và vụng về như thế. Đeo ba lô lên vai, miễn cưỡng chào tạm biệt mẹ, cô nhanh chân hòa vào dòng người màu áo xanh đang lên xe, chuẩn bị cho hành trình mới.

*            *
*

Đêm nơi núi rừng thật đáng sợ. Tiếng chim kêu lanh lảnh trong không khí. Xa xa, tiếng chim cú ồm ồm vang một góc rừng. Gió lùa cành cây xào xạc. Sự lạnh lẽo đang xâm chiếm cả cánh rừng. Trong ngôi nhà cũ, mọi người quây quần bên bếp lửa, bập bùng ánh sáng xua tan cái không khí ảm đạm ngoài kia. Đêm nay mưa rơi rả rích và trời khá lạnh. Anh Bảo đang sắp xếp nhân sự. 55 sinh viên trong nhóm sẽ được phân về các thôn. Nhóm cô có 15 người, đông người nhất trong các nhóm, được phân về thôn 7, là thôn xa và khó khăn nhất trong vùng, anh Bảo động viên các thành viên trong nhóm cố gắng để hoàn thành nhiệm vụ, cô được phân làm trưởng nhóm. Dù lần đầu tham gia còn khá bỡ ngỡ, nhưng trước sự tin tưởng của mọi người, và cũng muốn chứng tỏ là mình làm được, cô gật đầu đồng ý. Ngọn lửa được khơi thêm để xua tan cái lạnh và cơn mưa rừng đang ầm ào ngoài kia.

Quen lắm hình ảnh những đứa trẻ cõng em, dáng gầy gò, mái tóc cháy nắng, da đen nhẻm, theo mẹ lên nương. Những đôi chân lội suối nhanh như chú sóc chuyền cành cây, những bàn tay nhỏ nhắn bẻ măng hái rau thoăn thoắt của những đứa trẻ, khi động vào bảng và phấn viết sao khó khăn đến thế. Những ngày đầu thật vất vả, nhóm tình nguyện phải đến từng nhà nằm cách nhau cả quãng đồi để vận động các em đến lớp học chữ. Những em nhỏ cứ đi học được một bữa là bữa sau lại lên rẫy, lên rừng giúp cha mẹ bẻ măng, hái rau, trông em. Cô và các thành viên trong nhóm không nản chí, quyết tâm tìm cách giải quyết vấn đề, tập hợp động viên các em lên lớp. Rồi mọi việc cũng suôn sẻ hơn, các em đến trường đông hơn và việc dạy các em học trở thành một hoạt động thú vị.

*          *

*

Đêm. Gió vi vu lùa tán lá, mưa rả rích rơi, trời lạnh đến lạ. Đang thiu thiu ngủ, cô và nhóm tình nguyện chợt giật mình vì tiếng gõ cửa gấp gáp, tiếng người ồn ào, vội vã. Một người đàn ông trẻ, có lẽ là người bản địa, trên vai cõng một người phụ nữ, hình như là một sản phụ. Mặt người phụ nữ tái nhợt, đang run lên vì lạnh. Người đàn ông trẻ nói bập bẹ thứ ngôn ngữ tiếng kinh chưa sõi.
-         Vợ tôi… nó… đẹ… đẹ… không được. anh chi giúp nọ…. bác sị… giúp vợ tồi… nó đau từ chiều hôm quà mà nọ khung đẹ…
Mưa vẫn rả rích rơi, ở đây lại không có trạm xá, nếu đưa qua trạm xá cũng mất mấy tiếng đồng hồ, làm sao bây giờ? Câu hỏi lớn đặt ra với những sinh viên giữa màn đêm. Không ai bảo ai, mọi người đốt thêm lửa, nấu nước nóng và sưởi ấm cho người sản phụ kia. Mọi người nhìn nhau ái ngại, rồi mọi ánh mắt đổ dồn về phía cô.
-         Chị Mai, làm sao đây?
Có ai đó lên tiếng hỏi. Cô ngập ngừng.
-         Tôi … tôi cũng không biết nữa, chưa bao giờ tôi lâm vào tình huống này,… nhưng dù thế nào cũng phải giúp đỡ mẹ con họ…
-         Hay chị đỡ đẻ đi, dù sao chị cũng được học qua rồi mà
-         Nhưng tôi…
Mọi ánh mắt nhìn cô đầy tin tưởng, nhất định, phải cố gắng lên.
Người phụ nữ đẻ con đầu lòng, lại đang bị sốt, thể trạng rất yếu. Đang bối rối, cô chợt nhớ đến những thứ mẹ đã chuẩn bị trước khi đi, may quá, vẫn còn để trong ba lô.
Cô sinh viên cẩn trọng thực hiện theo những gì mình đã thưc tập, trong một điều kiện hi hữu, không khí căng ra, im lặng. Chỉ có tiếng sột soạt của những thao tác, tiếng lách tách của than hồng và tiếng rên rỉ của người sản phụ. Mồ hôi rịn ướt trán, trời đang mưa mà không khí có cảm giác nóng đến khó chịu.
Oe oe oe,… tiếng khóc của bé trai chào đời khỏe mạnh khiến bầu không khí vỡ tung, phá tan sự căng thẳng rợn người những phút vừa qua. Tiếng thở phào nhẹ nhõm, nụ cười nở trên từng khuôn mặt những người trong căn phòng này. Nụ cười nở trên môi trút đi sự căng lên của các cơ mặt bởi sự tập trung cao độ. Có lẽ cô là người cười tươi nhất, thực hiện thao tác cuối, cô lau người cho em bé và cuộn cu cậu trong chiếc chăn thổ cẩm người cha đem theo. Qua rồi cơn nguy hiểm, mẹ tròn con vuông. Người sản phụ mỉm cười mãn nguyện nhìn cậu con trai được đưa lại đặt cạnh mình, người đàn ông gần đó lại gần người vợ, nắm bàn tay vợ và ngắm nhìn đứa con đầy âu yếm. Cô đứng đó, ngắm nhìn gia đình nhỏ đang quây quần bên nhau, sự hạnh phúc đang hiện trên những khuôn mặt rạng rỡ kia, lòng cô chợt dâng lên những cảm giác mông lung khó tả. Trong không gian, có tiếng gà rừng gáy te te đâu đó, mưa đã ngớt và những tia nắng đầu ngày đang luồn qua kẽ lá rọi về khu rừng già.
-         Chúc mừng anh chị, cháu trai kháu khỉnh dễ thương lắm. Rất may, cả 2 mẹ con đều khỏe mạnh.
-         Cạm ơn bác sị… tôi vui cài bung lẳm.
Người đàn ông trẻ rối rít cảm ơn nhóm sinh viên, nghẹn ngào không nói thêm được câu gì, anh đến bên vợ. Họ nói với nhau bằng ngôn ngữ địa phương, không ai hiểu họ nói đang những gì, nhưng có lẽ, chắc chắn một điều, họ đang hạnh phúc chào đón một sinh linh mới, đứa con đầu lòng.

Cô lặng lẽ bước ra bờ suối rửa tay, vục làn nước mát vỗ lên mặt. Nước mát lạnh lăn trên da rồi rớt xuống hòa mình vào dòng sông mẹ hiền hòa. Xa xa, mặt trời mọc hồng rực một vùng trời đông lấp loáng, làn sương mỏng dăng dăng trong thung lũng tựa đám mây ham vui đang dạo chơi vờn vách núi. Cô đứng lặng im ngắm dòng nước đang trôi, có chiếc lá vàng rớt xuống, chao nghiêng rồi đáp nhẹ trên mặt nước. Tiếng nói bật ra nhẹ bẫng trong không khí, thì thầm. “… Mẹ… Con cảm ơn mẹ….”.