Lời cảm ơn

Cảm ơn bạn đã ghé thăm blog của Mèo Con Anx, hi vọng tiếp tục nhận được sự ủng hộ của bạn.
Mến chúc bạn luôn vui tươi và tìm thấy nhiều điều ý nghĩa trong cuộc sống nhé!

29 tháng 7, 2013

Tản mạn...!

Ai đã qua thời thanh xuân nông nổi
Rót chút nắng vàng gõ cửa ánh dương
Ai đã gieo bao giọt buồn sầu muộn
Ướt đẫm thềm nhà những giọt mưa tuôn

Sáng nay tỉnh giấc chợt buồn vô hạn
Mượn gió gửi hồn tản mạn trước không gian
Nghe trời đất chuyển mình trong tiếng nấc
Chợt giật mình sao nhanh quá thời gian....

10 tháng 7, 2013

DÃ QUỲ VẪN ĐỢI


Dã quỳ đã rực vàng khoe sắc bên những bờ rào cà phê. Màu vàng nhìn đến chói cả mắt. Lại một mùa nữa hoa dã quỳ nở rộ trên vùng đất bazan này. Thêm một năm qua đi. Mà bao nhiêu năm rồi nhỉ? Đã bao mùa trôi? Con trăng cứ khuyết lại tròn. Con suối cứ cạn rồi đầy. Đàn chim bay về làm tổ rồi lại bay đi. Hoa cà phê cứ nở rồi tàn. Lá trên cành cứ xanh rồi rụng. Đã bao năm rồi, cứ mỗi mùa hoa dã quỳ nở, nó lại ra đứng nơi gốc cây muồng đầu con đường đất ngóng chờ từ sáng sớm đến chập tối, đôi mắt hướng xa xăm về phía ấy, ngóng chờ trong vô vọng rồi lủi thủi ra về, lòng đượm buồn. Nỗi buồn ngự trị tràn đầy xen lẫn nỗi nhớ khuôn nguôi.

- Mày lại đứng đợi ở gốc cây đầu buôn đó hả?

Có vẻ như câu hỏi ấy đã lặp lại không biết bao nhiêu lần và lần nào cũng thế, nó cũng chỉ lặng im không nói câu gì.

- Tao bảo rồi, mày chờ đợi làm gì vô ích. Con Nali giờ đang an nhàn hưởng lạc nơi phố thị xa hoa, không còn nhớ về nơi đây nữa. Nó quên nơi này lâu rồi, nó quên mày lâu rồi.

- Không. Không phải như thế. Chị ấy vẫn nhớ. Chị ấy đã hứa là sẽ trở về. Chị ấy đã hứa và nhất định sẽ về, nhất định là như thế.

Nó nói mà đôi mắt ráo hoảnh vẻ đầy chắc chắn.

- Vậy mày cứ đợi đi. Rồi sẽ thấy chỉ vô vọng mà thôi.

Nó lầm lũi bước xuống sàn rồi lẳng lặng ra bờ suối.

Chị ơi, sao chị chưa về, sao chị đi lâu thế! Chị đã hứa chỉ đi một thời gian ngắn thôi mà! Đã hứa khi mùa dã quỳ nở thắp vàng cả những con đường, khi mùa cà phê cong trái chín mọng chị sẽ trở về với em cơ mà. Chị đã hứa rồi mà! Vậy mà em đã ngóng chờ bao mùa dã quỳ, đã bao mùa cà phê rồi. Sao chị vẫn chưa về!? Hay dì đã nói đúng. Phải chăng chị đã quên nơi đây, quên lời hứa năm nào, quên những tháng ngày khó nhọc khi xưa. Quên chúng ta đã sống như thế nào? Phải chăng chị đã quên em. Chị ơi!... 

Nó không khóc mà sao nước mắt cứ tuôn ra, tuôn ra và thi nhau chơi trò đuổi bắt trên đôi má nâu tròn tròn.

*            *

*
Ngày ấy, nhà nó nghèo lắm. Ama, amí nó cũng vì nghèo mà chết. Chết trong sự mê tín của họ hàng. Amí bị bệnh tim đã lâu, thế mà lũ làng cứ cúng bái thần linh. Hết cúng Yàng đến làm lễ, bệnh amí có đỡ đâu. Rồi một buổi chiều cuối tháng 12, khi những bông dã quỳ không còn khoe sắc vàng nữa mà nhuộm thành sắc đỏ rưng rưng, amí ra đi mà không nói lời từ biệt. Amí đi khi đang gùi nước leo cầu thang. Nó và chị ôm nhau cùng ama khóc. Tiếng khóc vang đến tận lùm cây nơi những bông dã quỳ đang cúi mặt, hình như chúng cũng đang khóc. Ama nối dây với dì, không phải dì không tốt với chị em nó. Nhưng dì không thể thay được amí trong lòng nó. Đối với chị cũng thế. Chẳng bao lâu sau, ama rời bỏ chị em nó. Amí không nỡ để ama lại nên rủ ama cùng về với ông bà. Chị trở nên ít nói, sống nội tâm, lủi thủi đi, lủi thủi về, không chơi đùa như chúng bạn cùng trang lứa. Nhà nghèo nhưng chị em nó vẫn được đi học. Chị học rất khá. Nó học không bằng chị, mà nó cũng không thích học. Đối với nó đi đổi công với các bạn, hái rau rừng, đi bẻ măng hay gùi hàng đi bán ở chợ vui hơn là đi học. Đi học nghĩ nhiều mệt đầu lắm.

Chị học hết cấp hai, định nghỉ học thì được nhận học bổng và vào học cấp ba trường nội trú tỉnh. Chị ít về nhà hơn, ít gặp nó hơn nhưng biết sao được, chị bận học mà. Ba năm trôi qua thật nhanh, giờ chị đã học hết cấp ba. Hôm về nó gần như không nhận ra chị. Chị trắng trẻo, người mảnh mai, mái tóc đen bóng mượt, ngón tay dài và thon, nói sõi tiếng kinh. Nó nhìn lại mình, làn da nâu, mái tóc dài quăn quăn vầng trán, đôi tay thô ráp, đen sạm vì nắng, dáng người tròn tròn vai đầy đặn, đôi chân to rắn chắc vì những gùi lúa gùi sắn luôn nặng vai trên đường dốc đường đồi. Hai chị em không còn giống nhau như những người trong buôn vẫn thường nói nữa. Chị ôm chầm lấy nó khóc vì vui sướng, thủ thỉ kể cho nó nghe nhiều chuyện của chị như những lần chị về thăm nhà chị vẫn hay kể.

- Giờ chị sẽ ở nhà, lên rẫy làm vườn cà và cưới chồng chứ? Nó hỏi.

Chị tròn mắt ngạc nhiên: “ Sao lại lấy chồng sớm vậy em?”

Đến nó ngạc nhiên: “ Chứ không lấy chồng chị sẽ làm gì? Dăm dei anh Y Ngheh nhà Aê H’Rôi đánh tiếng với dì rồi đấy.”

- Không. Chị chưa muốn lấy chồng đâu. Chị muốn đi học tiếp. Chị nghe bảo buôn mình sắp có mấy suất cử tuyển đi học bác sĩ hay quân y gì đó. Chị sẽ làm đơn em ạ.

Thế rồi chị đi thật. Chị làm đơn và được đi học. Bất chấp dì ngăn cản và dọa sẽ từ chị, chị vẫn đi. Ngày chị đi chỉ có nó ra tiễn chị đến tận con đường đất đỏ đầu buôn. Lúc đó đang là mùa mưa. Con đường lầy đến lún bàn chân như lời níu kéo chị đừng đi. Chị lên xe và hứa với nó nhất định khi hoa dã quỳ nở rộ, khi cà phê vào mùa hái, chị sẽ về thăm nó. Chị hứa sẽ viết thư cho nó đều đều. Hai tuần sau, nó nhận được thư thật. Nét chữ chị thân thương và mềm mại làm sao. Chị hỏi han về nó, về dì…kể về cuộc sống nơi thành phố. Chị còn kể về một anh chàng mới quen ở phố thị nữa. Nó hí hoáy viết và hồi âm cho chị theo dòng địa chỉ trong thư. Chao ôi, đôi bàn tay đã lâu lắm rồi không động vào cây bút, giờ cầm vào sao mà khó khăn đến thế, chữ còn xấu hơn cả gà bới. Nó cũng chẳng biết ghi gì nên chỉ kể vài điều về nó, về dì, về mấy đứa em đang đi học. Thế thôi, có gì nhiều mà kể chứ. 

Mùa dã quỳ đầu tiên đi qua, nó nhận được hai lá thư của chị. Chị bảo chị bận không về thăm nó được dù vẫn nhớ lời hứa năm xưa. Nó buồn nhưng cũng vui vui vì chị vẫn thương nhớ nó. Thêm mùa dã quỳ lại trôi, nó thưa nhận được thư của chị hơn. Phố thị tấp nập và việc học tập bận rộn quá, có lẽ vậy nên chị có ít thời gian viết thư. Rồi chị tịt hẳn không thấy viết thư về nữa. Anh Y Ngheh đã về nhà vợ ở buôn bên rồi. Dì đã có hai thứ tóc trên đầu. Hai đứa em cũng đã lớn và học lên cấp hai. Vậy mà chị vẫn chưa về. Có người đi thành phố về nói chị học xong đại học rồi được điều ra công tác ngoài Hà Nội, lại có người độc mồm bảo chị bỏ học đi theo anh chàng người kinh xấu hổ không dám quay trở về buôn. Mặc kệ mọi người nói gì, nó không nghe. Nó vẫn tin chị sẽ giữ lời hứa, chị sẽ quay về. Và mỗi mùa dã quỳ đến, nó lại ra đứng ở gốc cây muồng đợi đón chị trở về.

*                 *

*
Nó ngước lên bầu trời đêm. Trăng đêm nay mới lên hình lưỡi liềm nhọn hoắt. Sao đầy trời. Hình như có giọt lệ đang rơi. Sao long lanh như đôi mắt đang ướt. Chị ơi, chị hãy trở về, em vẫn đang đợi chị và mong chờ chị về. Dã quỳ đã nở rồi chị ơi…

Một buổi chiều trên con đường buôn tấp nập, những chiếc máy cày chạy túc tắc chở đầy mình những bao cà phê tròn nặng trĩu. Năm nay cà phê trúng vụ, bao nụ cười nở trên môi người nông dân. Có một cô gái đang bước từng bước chân sáo, đôi giày thể thao khỏe khoắn, chiếc ba lô con con và một chiếc vali nho nhỏ xách trên tay. Cô bước vào ngôi nhà dài đã cũ, sàn sắp mục. Ở đó có một người đàn bà trên đầu đã có hai màu tóc đang ngồi chẻ củi. Người đàn bà nheo nheo cặp mắt nhìn rất lâu để cố đoán xem ai đến nhà mình. Cô gái nhoẻn cười khẽ gọi: “ Dì ơi…”. Người đàn bà chết sững: “ …Nali…đúng Nali rồi…ôi…con tôi…”. Cô gái bước lên sàn, đặt vali xuống và ôm chầm lấy người đàn bà, một khoảnh khắc im lặng trước khi những cảm xúc vỡ òa… Đôi vợ chồng trẻ đi hái cà phê về, chiếc xe cày tiến vào cổng. Cô gái quay ra. Mắt người vợ trẻ bỗng long lanh nước, không nói được câu gì. Rồi cô rời chiếc xe chạy lại chỗ cô gái kia khóc òa như một đứa trẻ. 

- Em biết mà, em nói rồi mà. Chắc chắn chị sẽ về với em mà…em vẫn tin thế mà…

Người chồng ngơ ngác rồi như hiểu ra điều gì. Anh xuống xe và đi lại chỗ người vợ, cùng cô chia sẽ niềm hạnh phúc tràn ngập. 

Bên bờ rào, dã quỳ vẫn nở. Hoàng hôn buông màu nắng đượm. Có phải vì vậy mà dã quỳ vàng thêm, một màu vàng rực rỡ.

Văn hóa nghệ thuật các dân tộc Tây Nguyên: Những băn khoăn, trăn trở

Có thể khẳng định chắc chắn một điều rằng chỉ mới vài năm gần đây thôi, nhưng cả số lượng và chất lượng của văn hóa nghệ thuật (VHNT) các dân tộc thiểu số Tây Nguyên đã có sự đổi thay đáng mừng.
Các văn nghệ sĩ người dân tộc thiểu số tại Đại hội Hội VHNT Dak Lak nhiệm kỳ 2010-2015
Lĩnh vực nổi trội nhất phải được nhắc đến đầu tiên – “bề nổi” của VHNT Tây Nguyên, vẫn là nghệ thuật, lĩnh vực mà chúng ta biết thanh niên các dân tộc tại chỗ của Tây Nguyên, vốn có năng khiếu rất đặc biệt. Trước tiên là số lượng. Gần cả trăm học sinh người các dân tộc Tây Nguyên, ở khắp cả năm tỉnh trong khu vực, được đào tạo có bài bản, tốt nghiệp Trường VHNT Quân đội, các Nhạc viện, các trường VHNT địa phương, đã làm nên không chỉ những gương mặt mới, mà còn cả sinh khí mới cho nghệ thuật trình diễn lẫn giảng dạy âm nhạc ở Tây Nguyên.

Tiết mục của Đoàn Dak Nông tại Liên hoan Ca múa nhạc toàn quốc đợt II năm 2012
Về sáng tác, không còn tay ngang nữa, tất cả đã tốt nghiệp từ bậc cao đẳng trở lên. Sau sự mất mát rất lớn trong việc “ra đi về cõi mang lung” của các NSƯT Đinh Long Ta, nhạc sĩ Y Sơn Niê, họa sĩ Su Man… cộng với tháng năm chất chồng lên tuổi tác và sức sáng tạo của đội ngũ thế hệ tác giả thứ tư, như Y Brơm, KPă Y Lăng, Đinh Xuân La, Linh Nga Niê Kdam…thì đến nay đã có thể yên tâm ở đội ngũ kế cận. Không chỉ là ở thế hệ thứ năm như A Đuh, Y Phôn Ksor, K’Ra Zan Đích, K’Ra Zan Plin, Y San Aleo… mà về âm nhạc, chúng ta đã có thêm Thảo Nam Giang, Phi Ưng (Bana) và cả Y Ghim Kbuôr, Y Vol (Êđê), cho dẫu có hoặc chưa có dịp chứng tỏ mình trong tác phẩm, vẫn là những nhạc sĩ trẻ phối khí tốt. Sáng tác múa có Đinh Rô Bang (Ka Dong), Trần Y Kiều Diễm (Êđê) bước đầu đã có tác phẩm, tham gia các chương trình nghệ thuật lớn. Đặc biệt trong lĩnh vực ca nhạc, sẵn sàng tiếp bước Y Moan, Siu Black, Y Nghuch…, nhiều giọng hát nổi lên, làm phong phú thêm thế hệ trẻ ca hát chuyên nghiệp ở Tây Nguyên, như anh em Y Vol và Y Ga Ria, Y Zoen, H’Zi Na, Y Moan Hmok, Y Bhen (Êđê) ở Dak Lak; Đinh Xuân Đề, Y Giang Tuyn, Huang Thuyên (Banar) của Kon Tum và Gia Lai, Y Mơ Ling (M’nông) của Dak Nông, Chil Boner Trinh, Rô Zamik (K’Ho)… xuất hiện trong các cuộc liên hoan ca nhạc lớn, đều tạo được ấn tượng đối với khán giả yêu nhạc cả nước. Dẫu không chính thức tham gia vào làng nghệ thuật giải trí nhưng một Ka Long Ha Ghim (K’Ho) duy nhất cho tới thời điểm hiện nay, tốt nghiệp thạc sĩ Thanh nhạc tại Nhạc viện TP. Hồ Chí Minh, “mang chuông” đi hát tận nước Mỹ xa xôi, cũng được cộng đồng người Việt khen ngợi. Giảng dạy nghệ thuật, có thạc sĩ lý luận Y Mai và nghệ sĩ múa Măng Linh Nga (dân tộc Bana – ở Trường VHNT Gia Lai).

Bên cạnh đó, nhiều chương trình biểu diễn lớn như các Hội diễn nghệ thuật chuyên nghiệp năm, Festival Cồng chiêng quốc tế ở Gia Lai 2009, Tuần Văn hóa Du lịch Dak Lak, lễ kỷ niệm 35 năm Ngày giải phóng Buôn Ma Thuột 2010, Tuần văn hóa du lịch Buôn Ma Thuột 2011… có sự tham gia dàn dựng và biểu diễn của các nghệ sĩ người dân tộc thiểu số, nhiều tác phẩm khí nhạc, ca khúc, múa đã được dư luận đánh giá cao. Đặc biệt, bế mạc Tuần lễ Văn hóa Du lịch Dak Lak năm 2009, một lần nữa các tác giả âm nhạc Tây Nguyên lại được tôn vinh trong đêm biểu diễn “Gala các giọng hát trẻ” (điều tưởng như khó có thể thực hiện được, sau chương trình Kỷ niệm 100 năm thành lập và phát triển thành phố Buôn Ma Thuột tháng 11-2004). Những giọng hát nồng nàn như nắng, như gió, trong vắt như nước suối nguồn, đến từ khắp các tỉnh Tây Nguyên, đã một lần nữa chứng tỏ được thế mạnh của mình.

Lĩnh vực thứ hai đáng mừng đó là đội ngũ các nhà sưu tầm, nghiên cứu văn hóa dân gian có tri thức bậc cao: hai tiến sĩ Thu Nhung Mlô Duôn Du và Tuyết Nhung Buôn Krông (Êđê, Bih), 12 thạc sĩ văn hóa học người các dân tộc Bana, Êđê, J’rai, M’nông, Xê Đăng, Cơ Tu… do Quỹ Ford tài trợ để Viện Nghiên cứu Văn hóa đào tạo, đã và đang vững vàng trên cương vị công tác của mình khắp miền Trung và Tây Nguyên; dù ít, dù nhiều, vẫn có những đóng góp đáng quý vào công tác nghiên cứu văn hóa dân gian bản địa. Những công trình của các anh chị như: Âm nhạc Êđê (Lý Vân Linh Niê Kdam – được trao Giải thưởng Cư Yang Sin lần thứ I của tỉnh Dak Lak); Tang lễ của nguời M’nông Rlâm (Y Tuyn Bing), VHDG Xê Đăng (Nguyễn Thị Trung, Phan Văn Hoàng)… đã được xuất bản thành sách, bổ sung vào kho tư liệu của văn hóa Tây Nguyên những văn bản quý. Yêu mến và mong muốn góp phần bảo tồn văn hóa dân tộc, chuyên ngành này có thêm những nhà sưu tầm nhiệt tình, đang ngày đêm “lăn lóc” với thực địa như nhạc sĩ K’Ra Zan Plin với Bộ Luật tục K’Ho hơn 2.000 điều, được giới thiệu lần đầu tiên năm 2008; nhạc sĩ K’Ra Zan Đích với những bản ký âm giai điệu ching và dân ca K’Ho, Lach… Những “ hạt ngọc” của văn hóa truyền thống được nâng lên từ chính những bàn tay nâu sạm màu nắng gió và đất đỏ bazan, khoe vẻ đẹp tinh khiết với bạn bè.

Nếu 10 năm trước đây, chúng ta còn băn khoăn khi đi kiếm tìm những cây bút trẻ người dân tộc thiểu số bản địa, thì hôm nay, vui mừng thông báo với bè bạn lĩnh vực thứ ba, từ công sức và sự chăm lo của các Hội VHNT địa phương, đặc biệt là của Hội VHNT các tỉnh Dak Lak, Kon Tum, sẽ có một thế hệ 9X viết văn người dân tộc thiểu số hình thành từ các lớp, các trại sáng tác văn học trẻ, tiếp bàn chân trên con đường xây dựng nền văn học Tây Nguyên của các “liền chị ” 8X như Niê Thanh Mai, H’Triem Knul, Hoàng Thanh Hương… Đầu tiên là hai gương mặt Êđê (duy nhất của khu vực miền Trung và Tây Nguyên) tốt nghiệp lớp Đại học viết văn từ sự phối hợp của Hội Nhà văn Việt Nam và Trường ĐH VHNT Quân đội là H’Phi La Niê (văn xuôi) và H’Wê Ra Êban (thơ). Tiếp đến là những truyện ngắn hồn nhiên mà bước đầu đã có tính cách riêng của Hồng Nhật Ya Lan (M’nông)… rồi những Đinh Su Giang, Y Việt Sa (Xê Đăng – Hội viên Hội VHNT Kon Tum), H’Xíu H’Mok, H’Siêu Êban (Êđê – Hội viên Hội VHNT Dak Lak)… và sẽ còn nữa, từ những ươm gieo trên bàn tay nâng niu chăm bẵm của các lớp văn nghệ sĩ đi trước.

Rất ít ỏi nhưng vẫn có những mảng màu khác đậm chất cao nguyên không kém, đó là cây cọ trẻ của “làng” nghệ thuật tạo hình Trần Y Anh Tuấn (Êđê), Trần Hồng Lâm (Khơmer); hay trong “xóm” các ống kính hiếm hoi của nghệ thuật nhiếp ảnh: nữ nghệ sĩ Siu Kết (J’rai), Hội viên Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam, có ảnh được treo tại triển lãm ảnh quốc tế; đó còn là “tay máy” quay phim trẻ trung, đang rất có uy tín với đồng nghiệp ở các Đài Truyền hình phía Nam: Y Jen A Yun (Êđê)… Dẫu cho mải mê với việc kiếm sống ở Tây Nguyên hay nơi nào khác, nhưng tác phẩm của các nghệ sĩ này đã đem lại cho chúng ta niềm hy vọng về một thế hệ trẻ đang định hình và sẵn sàng hội nhập nhưng vẫn không đánh mất chính mình, trong các lĩnh vực hội họa, truyền hình và nhiếp ảnh được coi là rất khó bồi dưỡng và đào tạo…

Từ những gặt hái ban đầu nêu trên, xin được nêu ra đây một số điều băn khoăn trăn trở:

Đối với các Hội VHNT trên địa bàn Tây Nguyên: sao chúng ta không “chung lưng đấu cật” trong việc bồi dưỡng đội ngũ sáng tác trẻ mọi lĩnh vực, nhất là viết văn nhỉ? Hội địa phương nào cũng có kinh phí các trại sáng tác, nếu luân phiên mỗi năm một tỉnh, mở trại cho lực lượng tác giả trẻ, chọn lựa những cây bút thật sự có triển vọng (tất nhiên tỉnh nào cũng phải đóng góp kinh phí cho đơn vị đăng cai), sẽ có hiệu quả hơn không? Như thế các bạn trẻ sẽ có dịp tiếp xúc với nhiều đàn anh, đàn chị, nhiều phong cách sáng tạo khác nhau. Theo thiển ý của người viết, trách nhiệm bồi dưỡng nhân tài trẻ tại chỗ, trước hết chính là của các Hội địa phương và phải cải tiến cả lối tư duy lẫn phương thức thực thi. Thậm chí không chỉ tác giả trẻ, mà có thể trao đổi nhiều thế hệ tác giả với nhau, cũng nên làm chứ? Đối với Hội VHNT các dân tộc thiểu số Việt Nam: Nên phát huy hình thức lớp sáng tác khu vực cho các tác giả trẻ, như đã làm hè năm 2009 với văn học ở Tây Nguyên (do Dak Lak đăng cai). Không được thường niên thì hai năm một lần, trong cả văn học, hội họa lẫn nhiếp ảnh (chỉ trừ âm nhạc, để ươm gieo và chăm sóc, nên mời đi trại sáng tác thường niên của Hội cả những tác giả người dân tộc thiểu số chưa phải là hội viên, như trước đây đã từng có). Trước mắt, nên dành một lớp cho hội họa hoặc nhiếp ảnh trẻ. Tuy nhiên, Hội rất cần kêu gọi sự phối hợp với các Hội chuyên ngành, như các Hội Nhà văn, Hội Nhạc sĩ, Hội Mỹ thuật, Nhiếp ảnh… để chia sẻ kinh phí. Và nhất là dự toán sao đó, để sau khi bế mạc trại có tập sách, hoặc triển lãm ( tranh, ảnh…) nhỏ.

Mọi sự so sánh đều khập khiễng nhưng nếu nhìn lại con đường phát triển VHNT các tỉnh miền núi phía Bắc từ 1955 đến nay, thì thời gian từ 1975 tới thời điểm này, đối với các dân tộc thiểu số ở các tỉnh Tây Nguyên, vẫn còn là quá ngắn ngủi. Những thế hệ đi trước đã “làm nên lịch sử” hầu hết ở lĩnh vực nghệ thuật diễn xướng đến nay cũng đã theo thời gian mà chững lại. Thế hệ nối tiếp vừa điểm sơ qua đội ngũ, được thế đã quý lắm rồi. Sao chúng ta không tiếp tục lạc quan, bồi dưỡng và mong đợi? Tin rằng, không chỉ con người, mà còn chắc chắn sẽ có tác phẩm.

Hội VHNT các dân tộc thiểu số, với trách nhiệm nghề nghiệp, quản lý một sân chơi có thể coi là dành riêng cho VHNT dân tộc và miền núi, nên chúng ta có quyền đòi hỏi ở Trung ương Hội một phương pháp mới có sáng tạo trong lĩnh vực bồi dưỡng đội ngũ tác giả người dân tộc thiểu số không chỉ riêng ở Tây Nguyên mà còn khắp cả nước. Rất cần đến một sức bật mạnh mẽ hơn, thấu đáo và có tình hơn. Đã đến lúc nên chăng, đừng dàn trải quá vào các trại sáng tác chung, mà đến đó chỉ như một sự nghỉ ngơi cho tác giả miền núi nữa (ngoại trừ những đợt đi thực tế các miền), mà tập trung vào bồi dưỡng đội ngũ tác giả trẻ?

Tây Nguyên, với nắng gió thừa thãi, với những huyền thoại như thực như mơ và không gian văn hóa cồng chiêng, luôn là niềm hứng khởi cho cảm xúc sáng tạo của văn nghệ sĩ. Nếu biết kiên nhẫn chăm chút vun trồng, chúng ta sẽ có đội ngũ tác giả trẻ người các dân tộc bản địa, đông vui, như xứng đáng được thế!
Theo baodaklak.vn

9 tháng 7, 2013

Làng chiếu Long Định và ứng dụng công nghệ trong sản xuất

Làng chiếu Long Đĩnh(xã Long Định, huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang) là làng nghề truyền thống có xuất xứ từ Bắc, tồn tại đến nay đã gần 60 năm. Cùng với cơ chế thị trường, làng nghề này đang có bước chuyển hướng, đưa công nghệ vào quá trình sản xuất.

Làng nghề thủ công truyền thống…

Xuất hiện từ những năm 1954, làng chiếu Long Định đã trải qua khoảng thời gian dài với những gia đình có đến 2, 3 thế hệ cùng sản xuất chiếu cói, cái nghề đã theo họ khi rời quê hương Ninh Bình di cư vào Nam. Bà Đoàn Thị Hiền, một người dân trong làng kề lại: “ngày trước, nhất là dịp nghỉ hè, gần như nhà nào ông bà, cha mẹ anh chị em cũng quây quần bên nhau làm chiếu. Người giũ lác, người dệt, người in hoa,.. tiếng khung cửi hòa lẫn tiếng nói, tiếng cười rộn vang khắp làng”.

Đã trở thành nghề truyền thống nên những người dân ở đây khá gắn bó với công việc của mình. Bà Trần Thị Lệ cho biết bà đã làm nghề này hơn 50 năm, đến nay đời thứ ba trong gia đình vẫn tiếp tục dệt chiếu. Ông Bùi Trần Tuấn Anh( sinh năm 1984) kể: “tôi vào nghề từ năm 8 tuổi, làm đến nay và chắc chắn trong tương lai vẫn gắn bó với chiếu, cần câu cơm nuôi sống cả nhà mà”.

Khi mới du nhập vào Nam, chiếu chủ yếu được làm thủ công, dệt bằng tay. Bà Nguyễn Thị Tươi, người đã 30 năm làm nghề đang ngồi bên khung dệt chia sẻ: “khung dệt này còn hơn tuổi tôi, làm theo mẫu ngoài Bắc, càng lâu càng dẻo, nếu có thay dổi cũng khó đóng lại được cái khung chuẩn như vậy”.

Không chỉ công đoạn dệt, để có được một tấm chiếu hoan thiện có hoa văn trang trí bán ra thị trường cần trải qua các giai đoạn in hoa, hấp chiếu cho thấm mực rồi đem phơi khô. Công đoạn này được thực hiện thủ công kĩ lưỡng, đòi hỏi sự tỉ mỉ khéo léo và chịu khó cuả người làm. Bà Vũ Thị Oanh, người trong làng cho biết: “nghề in bông không đơn giản. Tay lúc nào cũng dính phẩm, da mỏng và rát. Trưa nắng người khác được nghỉ ngơi, mình lại phải ngồi ngoài nắng đẻ phơi chiếu”. 

…đang được cải tiến công nghệ

Cùng với những ứng dụng mới về công nghệ, sản xuất chiếu cũng đang có sự chuyển đổi từ dệt tay sang dệt máy, giảm bớt sự vất vả của người làm. “ Bây giờ dân ở đây làm chiếu thủ công giảm hơn trước do thu nhập không được bao nhiêu. Mấy năm trở lại đây, gia đình nào có điều kiện thì mua máy dệt thay khung cửi nhằm nâng cao năng xuất”. Ông Nguyễn Văn Thi- Chi hồi trưởng Hội nông dân xã Long Định cho biết.

Được biết, cả làng có khoảng 50 máy dệt, có gia đình có đến 2-3 chiếc. bà Đỗ Thị Hường tâm sự : “bây giờ có máy cũng đỡ phần nào. Nếu dệt thủ công cần 2 người thì nay dệt máy chỉ cần một người là đủ”. Hiện bà Hường sử dụng hai máy tại nhà, thu nhập cũng khá hơn, trung bình 6-7 triệu một tháng.

Ứng dụng công nghệ còn thể hiện ở sự đa dạng hóa sản phẩm theo nhu cầu thị trường. Ông Vũ Minh Trung (chủ một cơ sở làm chiếu) đã tận dụng mối quan hệ bạn hàng để tìm hiểu, nắm bắt nhu cầu và thay đổi cho phù hợp với người mua, sản xuất ra nhiều sản phẩm mới như chiếu manh mỏng cho em bé ngủ võng, chiếu khổ 8 tấc đến 1,8m, chiếu gấp,… để tăng khách hàng.

Tuy nhiên, theo ông Thi, không phải hộ dân nào cũng đủ điều kiện mua máy dệt hay mở rộng sản xuất. Nhiều gia đình không có vốn đầu tư, thu nhập không đủ nên họ bỏ nghề, chuyển hướng đi. Từ 150 hộ nay giảm xuống còn 80 hộ làm chiếu. 

Một trong số những người chuyển hướng đi là ông Phạm Minh học- chủ cơ sở Minh Học. Ông cho biết, từ nằm 1998, ông đem cách làm thảm lục bình về làng và đưa sản phẩm này trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của cơ sở. Hàng chủ yếu xuất khẩu sang thị trường Châu Âu. Theo nhận xét của người dân, cơ sở của ông đã góp phần tạo việc làm cho nhiều lao động, mức thu nhập ổn định, thu hút nhiều lao động trẻ trong làng.

Dù làm thủ công hay chuyển sang hướng mới, ứng dụng công nghệ trong sản xuất, cho đến nay làng chiếu Long Định vẫn đang tồn tại, người trong làng vẫn tiếp tục dệt nên những tấm chiếu dày, bền chắc giống những tấm chiếu truyền thống ngoài Bắc- quê hương xuất xứ của nghề này.

H Xíu H Mok

Tp HCM T5.2011

( Bài viết nhân chuyến đi thực tế ở Tiền Giang)

BẦU TRỜI TRONG ĐÔI MẮT

Một buổi sáng chủ nhật đẹp trời, bầu trời cao và trong như ngọc bích. Những đám mây trắng nhè nhẹ trôi trên nền trời những tia nắng ấm áp vừa ngủ dậy. Khỏe khoắn. Tôi đeo giá vẽ, lọ màu và bảng pha bách bộ vào công viên để tìm chút cảm hứng. Lâu rồi chưa động vào giá vẽ. Những giờ học trên lớp làm tôi phát ngán.

Công viên hôm nay thật nhộn nhịp, đám trẻ chạy tung tăng trên nền cỏ, các cụ già tập dưỡng sinh. Cặp vợ chồng trẻ dắt con đi dạo. Ngày chủ nhật thư thái.

- Ối chú dẵm lên bức vẽ của cháu rồi…!

Tôi giật mình nhìn xuống. Nền cát mịn ngoằn ngoèo những nét vẽ của một bức tranh khá ngộ nghĩnh đã bị vết chân của tôi đè lên. Cô bé ngước nhìn tôi, đôi mắt long lanh thoáng buồn. Rồi em lại cúi xuống hí hoáy.

- Em đang vẽ à? Cho anh xin lỗi, anh mải ngắm phía trước nên không để ý. Em vẽ gì đó?

Cô bé hé cười: “Không sao anh ạ, em chỉ vẽ chơi thôi. Anh có thấy dãy nhà đằng kia không? Em đang tập vẽ chúng đấy”.

- Ồ ra vậy. Em cũng thích vẽ nhỉ!

Em mỉm cười không nhìn tôi: “Chắc anh mới chuyển đến hôm qua. Anh là họa sĩ à?”

- Sao em biết? À, vì những hộp màu và bảng vẽ này phải không? Ừ, anh mới chuyển đến chiều qua. Anh là sinh viên trường Mĩ thuật. Anh ở khu này để tiện đi học. Anh là Quân. Còn em?

-Em là Nhiên. Nhà em cũng gần đây. Anh có thấy ngôi nhà tường xanh có mái vòm đầy hoa chuông vàng đằng kia không? Nhà em đó.

Tôi nhìn theo hướng tay em chỉ, đúng là có ngôi nhà màu xanh có giàn hoa chuông nở rộ. Nắng làm hoa thêm vàng. Những mảng màu trông thật sinh động.

- Ừ anh thấy rồi...

- Nhiên, về thôi em. Sao còn ngồi đó vậy!

Một giọng nói vang lên làm gián đoạn cuộc nói chuyện giữa hai chúng tôi.

- A, chị Như! Chị ơi lại đây. Đây là anh Quân, sinh viên trường Mĩ thuật.

Nhiên hồ hởi gọi Như lại rồi quay sang tôi.

- Anh Quân đây là chị Như, chị gái em.

- Chào bạn. Rất vui được làm quen với bạn, mình mới đến nên còn lạ nhiều thứ. Hi vọng bạn và Nhiên sẽ là những người bạn của mình.

Như nhìn tôi có vẻ thăm dò: Vâng chào anh...Thôi ta về nào Nhiên...

Nói rồi Như dắt tay Nhiên đi một mạch. Nhiên cười với tôi rồi luống cuống đi theo chị. "Xem ra những người hàng xóm ở đây có vẻ mến khách". Tôi nghĩ thầm và cười một mình.

Sau vài ngày nghỉ ngơi dưỡng sức, tôi lấy lại được chút hứng thú động vào cây cọ. Không rõ là do cảnh vật nơi này thơ mộng hữu tình hay do sự cận kề của kì thi sắp tới? Đó là kì thi khá quan trọng do trường liên kết với Hội Mĩ thuật tổ chức. Những tác phẩm đạt giải trong đợt này sẽ được đi dự triển lãm quốc tế ở New Yook, kèm theo đó, tác giả sẽ được một suất du học tại Pháp. Nói chung đạt giải thì tôi không ham nhưng suất học bổng kia mới là đích mà tôi muốn đạt được. Đối với một anh sinh viên như tôi thì chuyện đi du học quả là một việc hơi phải nghĩ ngợi.

Tôi bách bộ qua công viên, thả hồn suy tư cùng những gam màu. Xa xa là bầu trời xanh, đám mây trắng bàng bạc bồng bềnh trôi. Nắng. Que nắng thả mình song song chạy dài, nhảy nhót trong không trung. Thoáng nhìn ngôi nhà có hoa chuông vàng, tôi thấy Nhiên đang cặm cụi. Có lẽ cô bé đang tập vẽ, trông có vẻ tập trung cao độ lắm. Tôi định gọi nhưng sợ làm em mất tập trung lại thôi. Chọn cho mình một góc sân, tôi dựng giá vẽ và bắt đầu vạch những đường chì.

- Anh đang vẽ à. Ôi anh vẽ đẹp nhỉ...

Giọng nói quen thuộc khiến tôi giật mình. Nhiên nhìn tôi cười rồi nhìn nhanh vào bức vẽ. Đôi mắt long lanh với cái nhìn thật sâu, nụ cười rạng rỡ với chiếc răng khểnh rất duyên. Hình ảnh ấy trong ánh nắng ban mai và cả bầu trời xanh màu ngọc bích, đám mây trắng bồng bềnh nhẹ trôi. Cả màu xanh tươi mát của gốc cây cổ thụ phía sau lưng em. Dường như tất cả được thu vào khung hình của một bức tranh tuyệt mĩ không ngôn từ nào diễn tả hết được. Tôi như bị hút hồn vào bố cục bức tranh trước mắt rồi bỗng sực tỉnh trước sự bối rối của em.

- À, ừ, anh đang hí hoáy vậy thôi... Lâu rồi chưa vẽ được gì... Nãy anh thấy em ngồi vẽ. Thế nào... bức vẽ của em hoàn thành chưa?

Em ngập ngừng: ‘‘Cái đó... em vẽ chưa xong... Em có cái này tặng anh’’.

Vừa nói Nhiên vừa đưa tôi một hộp cọ và màu vẽ.

- Em hi vọng anh sẽ dùng nó. Tuy không mới lắm nhưng anh dừng chê nhé.

Tôi xúc động nhận món quà từ tay em: “...ừ, anh cảm ơn...“

- Nhiên ơi, xong chưa em? Ta về thôi.

Như bước lại chỗ chúng tôi, dắt Nhiên đi. Tôi đứng ngẩn người nhìn theo hai dáng nhỏ đổ dài trên mặt đất xa dần.

Mấy hôm sau hình ảnh hôm nào vẫn mường tượng hiện ra trước mắt, tôi quyết định vẽ lại phút giây ấy. Nói là làm, tôi say sưa vẽ. Khổ nỗi cái hồn bức tranh thật khó mà lột tả hết được. Tôi đã vẽ đi vẽ lại mấy lần, bỏ mấy bản nháp mà hồn tranh vẫn chưa bộc lộ được. Hơi nản, tôi buông cọ, đi dạo vẩn vơ. Buổi sáng (có vẻ tôi có duyên với buổi sáng), tôi ngồi bật giậy và ngồi vào ghế vẽ, bắt đầu công việc. Không rõ nguồn động lực từ đâu mà tôi ngồi vẽ một mạch đến trưa, quên cả ăn sáng. Ngắm lại tác phẩm của mình để đặt cho nó một cái tên. Một cô bé mơ mộng ngước nhìn trời. Bầu trời trên cao trải rộng một mau xanh... “Bầu trời trong đôi mắt“? Cái tên chợt lóe sáng trong đầu tôi. Nghe có vẻ xuôi, tôi đem bản vẽ ấy gửi đi dự thi, trong lòng âm thầm nuôi một niềm hi vọng.

Hai tháng sau, một buổi sáng đẹp trời, tôi tỉnh giấc bởi tiếng chuông điện thoại từ Hội Mĩ Thuật. Tác phẩm “Bầu trời trong đôi mắt” của tôi vẽ Nhiên hôm nào đã giành được giải đặc biệt trong buổi triển lãm và suất học bổng kia chính thức dành cho tôi. Khó mà diễn tả được nên lời tâm trạng của tôi lúc ấy. Vậy là sau bao ngày hồi hộp mong đợi cuối cùng đã thành công. Tôi nghĩ đến Nhiên, cần phải chia sẻ với em về thành công này. Dù sao thì nhờ em mà tôi có được cảm hứng kia. Cả hộp cọ em tặng tôi nữa, tôi đã dùng nó để hoàn thiện tác phẩm của mình. Tôi chạy ra công viên tìm em nhưng không thấy. Tôi sực nhớ ra đã lâu lắm rồi tôi không gặp em. Tôi lần tìm đến ngôi nhà có giàn hoa chuông hôm nào. Căn nhà vắng tanh, cửa khóa kín phủ đầy bụi. Ông hàng xóm đang đứng tưới hoa hỏi tôi tìm ai. Tôi trả lời tìm Nhiên rồi sững sờ khi nhận được câu trả lời: “Cháu tìm bé Nhiên à? Gia đình nó dưa con bé ra nước ngoài chữa mắt rồi. Nghe nói sang Pháp hay sao ấy...”.

- Sao cơ, chữa mắt?... Mắt bé Nhiên bị sao hả bác?

- Ủa cậu không biết à, con bé đã bị tai nạn ô tô năm năm trước khi nó đi học về. Cũng may không bị thương tích gì nhưng từ đó con bé sống trong bóng tối, mắt nó không nhìn thấy gì được nữa. Tội nghiệp con bé, nó thích vẽ lắm đó. Nó còn được cha mẹ tặng cho một hộp cọ to để tập vẽ. Nhưng vô dụng với đôi mắt không thể nhìn thấy gì. Nó chỉ hình dung thế giới xung quanh bằng trí tưởng tượng mà thôi. Giờ nghe bảo bên Pháp gì đó có công nghệ mới có thể chữa được, cha mẹ đưa nó đi rồi. Mong là con bé sớm bình phục... À mà cậu là thế nào với nhà nó vậy?

- Dạ cháu là... bạn cô bé. Cháu cảm ơn bác...

Tôi lững thững bước đi thả hồn vào cái nhìn vô định, lòng đầy tâm trạng rồi đến công viên hồi nào không hay. Tôi ngồi lại chiếc ghế đá hôm nào, hình ảnh cô bé bỗng hiện ra trước mặt. Ở nơi đây tôi gặp em lần đầu, cũng nơi đây em tặng tôi hộp cọ, khen động viên bức tranh vụng về tôi vẽ dở. Cũng chính em là nguồn cảm hứng để tôi đi đến thành công. Bầu trời trong đôi mắt là điều đẹp nhất mà em mang đến cho tôi. Vậy mà tôi không hề biết rằng tất cả những điều ấy em chỉ cảm nhận được bằng hình dung mường tượng. Không biết rồi đây trên đất Pháp xa xôi tôi có gặp được em, cô bé thiên thần, mang cả bầu trời trong đôi mắt ...

6 tháng 7, 2013

XIN HÃY NGỦ YÊN

Chiến tranh đã đi qua trên đất nuớc Việt Nam thân yêu đuợc hơn ba mươi lăm năm, tưởng chừng những vết thuơng đã lành miệng, nỗi đau đang lùi dần vào quá khứ để thay bằng một tương lai mới tốt đẹp hơn. Thế nhưng đâu đó trong những mảnh đời, trên những vùng miền của đất nước, trong lòng những con nguời đã từng một lần trải qua, những thời khắc đau thương, những tháng ngày bom đạn triền miên, nỗi đau chia cắt bởi chiến tranh, sự ám ảnh cả về thể xác lẫn tinh thần đôi lúc vẫn ùa về dâng lên đau nhói. Ngay đối với chúng tôi, thế hệ trẻ sinh ra trong hòa bình, tận hưởng hạnh phúc và tự do, cũng không sao kìm lòng, kìm lại những giọt nước mắt và sự phẫn nộ khi được xem những hình ảnh, tư liệu tái hiện thời kì bom rơi đạn nổ chia cắt đất nước khi đến tham quan Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh. (Võ Văn Tần, Q.3, tp Hồ Chí Minh). 

Có xa lạ không hình ảnh về nỗi đau của người mẹ mất đi đứa con thơ, người vợ chứng kiến cảnhchồng ngã xuống ngay trứơc mắt, đứa con gái nhìn thấy xác cha bị phanh xẻ rồi lôi đi?... vậy mà trên vùng đất này- vùng đất ghi dấu những tràng vàng chói lọi về một thời hào hùng, dấu tích tội ác vẫn còn in hằn khó nhạt nhòa như minh chứng hùng hồn vạch trần bộ mặt tàn ác của kẻ xâm lược. 

Nơi quê nghèo đang yên vui bỗng đâu giặc tràn về như cơn bão. Không cần biết họ là ai, họ làm gì, không cần quan tâm họ có phải là đối tượng cần phải truy bắt; những tên giặc với súng đạn trong tay tự cho mình cái quyền sinh sát, cướp đi tính mạng của những con người vô tội không có khả năng tự vệ- phụ nữ và trẻ em- đang đứng trước nòng súng. Chúng sẵn sàng “giết nhầm hơn bỏ sót” bất cứ tên “cộng sản” nào đang lăm le lật đổ sự thống trị tàn bạo mà chúng tự ban cho mình trên mảnh đất này. Dân thường đã vậy, những chiến sĩ quả cảm bị bắt khi đang làm nhiệm vụ càng phải chịu những ngón đòn hiểm hóc hơn- ngón đòn mà ngay cả trong cơn ác mộng kinh hoàng nhất người ta cũng không chắc dám nghĩ tới. các chiến sĩ của ta bị hành hạ tra tấn dã man bất kể ngày đêm nhằm moi móc thông tin, lục lọi để đoán ý đồ tấn công của ta. Đã có bao đồng bào ta phải chịu hi sinh mất mát, bao anh hùng còn nằm lại ngoài kia còn chưa yên nghỉ tại nơi họ đã sinh ra, bao gia đình tan tác tha hương phải li tán chưa tìm lại được người thân thích. Đã có bao rừng cây trơ trụi, đất đai cằn cỗi lá vì chất hóa học hủy diệt hàng loạt, bao rừng ngập mặn chỉ còn là vùng đất chết, những hố bom cày xới nham nhở từng mảng đất? 

Chợt nhớ đến câu thơ: 

…Có những phút giây làm nên lịch sử 

Có những cái chết hóa thầnh bất tử 

Có những lời hơn mọi lời ca 

Có những con người như chân lí sinh ra… 

Có phải vì vậy mà mảnh đất này đã sinh ra những người anh hùng, từ cụ già đến em nhỏ, từ thanh niên trai tráng đến các cô các chị, ai cũng tình nguyện đứng lên bảo vệ đất nước? Em bé ngây thơ cất tiếng khóc căm hờn đòi nợ máu, ngọn lửa căm thù vẫn cháy ngùn ngụt trong mắt người dân. 

Chiến tranh đi qua nhưng tàn dư vẫn còn đọng lại, những nghĩa trải dài, những bia mộ lạnh lẽo với thời gian, những con người mất đi một phần thân thể mình… giữa những mảnh đời mưu sinh lặng lẽ, có những con người vẫn đang mang trên mình nỗi đau khôn tả khi những thế hệ sau mình sinh ra còn đeo đuổi mãi những tàn tích chiến tranh- chất độc màu da cam, họ âm thầm chịu đựng, chấp nhận số phận mà không hiểu vì sao. Thật đau lòng khi chứng kiến cảnh những em bé bị nhiễm chất độc da cam đang chơi đùa gần đó. Có lẽ các em chưa đủ nhận biết nỗi đau đớn mà những khiếm khuyết kia đang hành hạ em. Tôi may mắn được sinh ra lành lặn và khỏe mạnh, nhưng liệu thế hệ tôi và cả sau tôi, có phải tất cả cũng đều may mắn như vậy? không chỉ đối với nhân dân ta, ngay cả binh lính Mỹ- những kẻ mang “sứ mệnh” xâm luợc khai hóa cũng phải gánh chịu hậu quả mà chúng đã gây ra. Không ít binh lính, phi công Mỹ trở về từ chiến tranh việt Nam mang theo trong mình mầm mống chất độc để rồi thế hệ sau sinh ra cũng không tránh khỏi. đó là cái giá phải trả, cũng là nỗi đau chung nhiều thế hệ phải chịu đựng. càng như vậy càng thấy rõ sự phi nghĩa của chiến tranh, càng phải lên án chống lại. 

Chiến tranh đã kết thúc trên đất nước ta hơn ba thập kỉ, nhưng liệu rằng nỗi kinh hoàng và những hậu quả của nó đã chấm dứt? 

Ánh chiều dần buông khi chúng tôi rời bảo tàng trong cái àm ào của thành phố về chiều. Bỏ lại sau lưng kí ức về một thời, đi qua những cỗ xe tăng, trực thăng, những quả bom to hơn một dáng người, băng qua con đường khi mưa đã ngớt hẳn. Đi dưới tán cây, chợt có làn gió thổi làm cành cây rung lá làm rơi những gịot nước đọng lên áo, cảm nhận sự bình yên đang len lỏi trong từng ngõ ngách của sự sống nơi này. 

(bài viết nhân chuyến tham quan Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh)

ĐÔNG VỀ ẤM ÁP

(Tặng Đức, mong cậu sớm vượt qua và bình phục) 

Nhặt chiếc lá vàng vừa cất mình thả xuống mặt đất lơ đễnh. Nó ngước nhìn bầu trời màu xám đang trải trên đầu. Một làn gió thổi qua mang theo cái rét khẽ khàng đi ngang lùa chân tóc. Đông đang về. Cái rét ấy mới thân quen làm sao, quen lắm mà giờ xa xôi lắm. Dường như nó đã trải qua lâu lắm rồi. Mà không, cái rét này lạ lẫm chứ không hề quen. Bởi giờ đây cơn gió lạnh mang theo cái rét đến khi nó chỉ còn lại một mình cô đơn trơ trọi, phải một mình chống chọi với mùa đông. Ôi…lạnh…! 

- Ran ơi, cậu thích mùa nào nhất? 

- Mình à, mình thích mùa xuân nhất, mùa xuân có hoa thơm, trời xanh nắng vàng. Mùa xuân tết đến, mọi người xum vầy. Mình mong tết về… 

- Còn mình thích mùa đông nhất. 

- Vậy sao? 

- Ưh, mùa đông những cơn gió nhẹ vờn tóc bay, tuyết rơi nhè nhẹ miên man xao động một góc trời… và mùa đông đến điều mình mong ước sẽ trở thành hiện thực… 

- Oa, cậu cũng lãng mạn nhỉ!... Mà điều ước của cậu là gì thế, chia sẻ với mình được không? 

- Suỵt, đó là một bí mật chưa thể bật mí,… 

Hai đứa trẻ vẫn say xưa với câu chuyện giữa đồi mà chẳng hay gió bắt đầu se lạnh thổi mênh mang một góc chân trời. 

Đến bây giờ nó vẫn lờ mờ chưa thể đoán ra điều ước thầm kín mà Mi từng nhắc đến. Mà cũng lâu lắm rồi, có lẽ nó đã quên nếu như miền kí ức năm nào không ùa về ồ ạt như cơn gió thoảng chiều nay. 

*                       * 


Mi có đôi mắt to và đen láy, lông mi dài, dáng người dong dỏng cao. Nó thì ngược lại, mắt một mí, lùn và tròn như cây nấm. Hai đứa đi với nhau là lũ bạn tha hồ chọc cười, cặp đôi số 10, San-chô Pan-xa và Đôn-ki-hô-tê. Kệ, hai đứa vẫn thân nhau lạ. Mỗi chiều sau giờ học, chẳng chịu về nhà ngay mà còn tha thẩn rủ nhau ra đồi thông bên đường gần trường. Nói là đồi thông cho oai chứ được có mấy cây thông, còn lại là khu đất trống đang chờ quy hoạch trồng cây, mặt đất phủ trắng một màu hoa xuyến chi và mấy bông lọ lem tím. Chỉ có vậy mà cảnh cũng thu hút được sự chú ý của hai đứa trẻ đến lạ, hầu như hôm nào hai đứa cũng đi qua đó ngắm hoàng hôn hay hái hoa kết vòng đội đầu, có khi tối mịt mới chịu về. Đến nhà tha hồ “ăn cháo lươn” của mẹ, mà có chịu chừa đâu, hôm sau vẫn thế. 

Năm tháng dần trôi, hai dứa bé giờ lớn lên rồi, những thiếu nữ giờ đây bận bịu học hành chẳng còn nhiều thời gian dành cho đồi thông năm xưa, con đường ngày xưa giờ cũng thay đổi, ồn ào đông đúc hơn. Cây xanh phủ khắp triền đồi nhưng hoa xuyến chi vẫn trải dài đến vô tận. 

Nó bước đi trên đường mà hồn đang tận nơi nào xa xăm lắm. Đường hôm nay thật dài, gió thoảng qua làm lá cây rụng tơi tả. Bước mãi mà đường xa quá. Bấy lâu nay có bao giờ đường xa đến vậy. Chợt nhận ra giờ nó đang đi một mình, Mi chẳng còn đi cùng nữa. Chiều nay nó nhận được cú điện thoại của chị Na - chị gái Mi, Mi đã vô Sài Gòn thử máu, Mi nhờ chị chuyển lời xin lỗi vì không đến dự sinh nhật nó được, Mi vẫn nhớ sinh nhật nó nhưng không thể đến. Nó hoảng hốt vì sự vô tâm của mình. Dồn dập hỏi, nó được biết Mi bị bệnh máu trắng, giờ đang thử để tìm máu tương thích, dù hi vọng rất mong manh. Sững sờ như sét đánh ngang tai, nó chết sững giữa hàng cây vắng lặng. Nó giận Mi giữ lắm, giận vì Mi quên sinh nhật nó, giận vì hai đứa đã hứa khi nào sinh nhật một trong hai thì cả hai sẽ cùng đến khu đồi này chúc mừng sinh nhật đứa kia. Nó đã đợi ở đây từ sáng mà Mi không đến. Chẳng lẽ Mi quên thật, năm tháng và những người bạn mới đã làm Mi cho nó vào dĩ vãng hay sao? Hoàng hôn buông, những tia nắng nặng nề thu mình sau rặng núi nơi chân trời… 

Một buổi sáng chủ nhật, nó ngồi trước máy vi tính, lười biếng gõ bàn phím nhập dòng địa chỉ yahoo. Hộp thư đến báo tin nhắn: “Chào Ran! Đoán xem mình là ai nào? Nhận được tin nhắn thì PM cho mình nhé!” Cái nick lạ mới gửi tin cách đây vài phút. Nó tò mò send lại. Mi, đúng là Mi thật rồi. Nó mừng quýnh. Nó hỏi nhưng Mi không nói nhiều, chỉ nói Mi vẫn khỏe, nhớ nó nhiều. Rồi Mi nói mệt và thoát nick. Nó hụt hẫng nhưng cũng thấy an tâm hơn vì Mi vẫn bình an. 

Một ngày bình yên sau kì thi Đại học, nó bước đi dưới tán thông xanh trên ngọn đồi năm nào. Con đường giờ trải gạch, ghế đá đặt san sát. Đồi thông vắng và lành lạnh, gió khẽ lay rì rào một góc trời. Từ xa nhìn lại một bóng dáng nhỏ bé đang ngồi ngước nhìn những tán thông. Quen mà lạ. Hình như đó là một cô bé, cô đội chiếc mũ len trùm kín đầu, chiếc áo len dày cộp ấm áp. Có vẻ đang chờ đợi cái gì đó. Nó bước lại gần, giật mình vì giọng nói quen thuộc cất lên. “Cậu đến rồi à, vẫn nhớ hôm nay là ngày gì chứ. Thế mà mình cứ sợ cậu sẽ quên…” 

Ôi! Đó là Mi… Nó ngạc nhiên không thốt nổi nên lời. Mi bằng xương bằng thịt đang đứng trước mặt nó. Những ngày tháng xạ trị đau đớn đã khiến dáng hình Mi bé nhỏ và gầy đi nhiều, tóc cũng rụng hết vì hóa chất. Giờ đây Mi đang dần hồi phục, tóc đang mọc trở lại. 

Đôi bạn nhìn nhau trong im lặng. Bất chợt cơn gió thoảng qua khiến cả hai cùng rùng mình-lạnh. “Chúc mừng sinh nhật Mi, mừng cậu đã trở về” 

*                 * 

Gió vẫn miên man trên triền đồi, vạt xuyến chi lay lay biển màu trắng và vàng trải ra vô tận. Bông lọ lem tím nấp mình e ấp giữa những tán cây. Đông đã về nhưng không mang theo hơi lạnh, đông đang về nhưng cả hai vẫn cảm thấy thật ấm áp.

3 tháng 7, 2013

Mười mùa xuân, văn học Trường Sơn – Tây Nguyên


Không một vùng đất nào trên trái đất, có được kho tàng văn học dân gian truyền miệng phong phú về giai điệu, giàu có về nội dung, đồ sộ về khối lượng, độc đáo về hình thức trình diễn , như thể loại trường ca – sử thi của các dân tộc thiểu số khu vực Trường Sơn – Tây Nguyên. Cho dẫu trải qua nhiều biến động của thời gian, của lịch sử xã hội, của phương thức sản xuất du canh, luân canh; của sự chuyển đổi tín ngưỡng, tôn giáo, có làm cho đứt gãy , thì thuở xa xưa, có thể tộc người thiểu số bản địa nào của Tây Nguyên, cũng có trường ca, sử thi.

Đây không chỉ là những áng văn học truyền miệng dài hơi, những bộ “ tiểu thuyết” bằng thơ ca dân gian, mà còn vô cùng độc đáo ở nghệ thuật diễn xướng. Bởi mỗi nghệ nhân hát – kể trường ca, sử thi là một nghệ sỹ tổng hợp , vừa là đạo diễn dàn dựng, là diễn viên trình tấu , vừa là nhà phê bình, bình luận nội dung cốt truyện. Quan trọng nhất, họ là những tác giả chân đất vô cùng tài ba. Đội ngũ nghệ nhân hát – kể này, những “ báu vật dân gian sống” theo cách gọi của tổ chức UNESCO, đã từng rất, rất đông đảo trong mọi buôn, bon, kon, plei ở Trường Sơn – Tây Nguyên. Chẳng có lần kể chuyện nào giống hệt lần nào, bởi người nghe càng chăm chú, người kể càng thăng hoa, dẫn dắt không chỉ nhân vật của mình, mà cả khán thính giả, bay lượn khắp ba tầng trời, đất và dưới đất, dưới nước…

Xưa là thế ! Nay thì cũng không có một vùng đất nào mà văn học viết hiện đại lại ít ỏi và thiếu cả về đội ngũ tác giả lẫn tác phẩm, như văn học các dân tộc thiểu số ở Trường Sơn – Tây Nguyên. Tại sao vậy, khi chính họ là chủ nhân của kho tàng văn học truyền miệng giàu có và độc đáo nhường ấy? Tuy nhiên, mười năm đầu của thế kỷ XXI đã có những tín hiệu vui mừng. Đây có thể được coi là giai đoạn “ nở rộ ” của vườn hoa văn học dân tộc thiểu số trong khu vực Trường Sơn – Tây Nguyên, sau 35 năm phát triển; cả về đội ngũ lẫn tác phẩm.

Kinh tế Tây Nguyên vào đầu thế kỷ XXI có những đổi thay tích cực. Nhưng cuộc sống đời thường của các văn nghệ sỹ, nhất là người dân tộc thiểu số, vẫn không mấy dễ dàng gì. Thế nhưng sức sáng tạo của các anh chị không hề giảm sút, mà dường như còn ngày càng mãnh liệt hơn.

Ngoài những tác giả đã định hình, tiếp tục bổ xung hành trang sáng tạo của mình bằng nhiều tập sách in riêng như : Già làng Y Điêng cây đại thụ của “ Làng văn” dân tộc thiểu số Trường Sơn – Tây Nguyên viết liền hai tập tiểu thuyết N’Trang Lơng & Bên bờ Sông Hing.Và còn gây sửng sốt cho bạn yêu văn học bởi tập dày dặn ” Thơ Y ĐIêng”

Nữ nhà Văn Kim Nhất người dân tộc Bâhnar quê Bình Định nhưng mê mải lập nghiệp văn chương tại Buôn Ma Thuột, đã xuất bản thêm 8 tập truyện ngắn, bao gồm cả truyện viết cho thiếu nhi, đòng thời hoàn thành bản thảo hai tiểu thuyết Hoa dại đại ngàn & Luật của rừng. Điều khó tin mà có thật ở sức sáng tạo của một tác giả nữ người dân tộc đã sấp xỉ 70 mùa rẫy.

Nữ sỹ H’Linh Niê, dân tộc Êđê có lẽ vì quá cảm mến gió lộng cao nguyên mà trong mười năm vừa qua, liên tiếp giới thiệu với bạn bè yêu văn học hai tập truyện ngắn ( Gió đỏ & Pơ Thi mênh mang mùa gió), cùng hai tập bút ký văn học ( Đi tìm hồn chiêng & Nhân danh ai)

Không chịu thua kém bạn bè, nhà thơ đầy nữ tính dân tộc Hrê Nga Ri Vê ở Quảng Ngãi in thêm tập thơ Khát vọng & một tập truyện ký

Hội VHNT tỉnh Quãng Ngãi xuất bản tuyển tập thơ của tác giả quá cố người dân tộc Hrê Đinh Xăng Hiền

Chán thành phố Hồ Chí Minh ồn ào náo nhiệt, nên nối bước chân tới mọi nẻo đường rừng Tây Nguyên, nhạc sỹ Kpă Y Lăng vừa đi viết nhạc vừa ham mê chụp ảnh lại còn cho ra mắt bạn đọc tập thơ Mặt trời Cao nguyên.

Cây bút trẻ Êđê Niê Thanh Mai in liền ba tập truyện ngắn khẳng định vị trí không dễ lẫn của mình trên văn đàn không chỉ trong khu vực.

Cô giáo người dân tộc Tày Hoàng Thanh Hương ở Hội VHNT tỉnh Gia Lai, rời bục giảng để chuyên tâm gắn bó với văn chương, in thêm hai tập thơ ( Lời cầu hôn của rừng & Dự cảm) và một tập truyện ngắn

May mắn thay khi trên văn đàn Tây Nguyên “ bỗng dưng” xuất hiện thêm một số tác giả “ tự thân vận động” nhưng nhanh chóng định hình, đó là hai người làm thơ :

– H’Trem Knul , cô giáo người dân tộc Êđê ở Đăk Lăk mà ngay từ khi mới “ trình làng” trước khi in tập thơ “ Tiếng chiêng dài”, đã khiến giới chuyên môn trong khu vực phải chú ý, bởi thơ chị mang nhiều ảnh hưởng rõ nét của trường ca, sử thi từ đề tài cho đến văn phong.

– K’Ra Zan Plin , một nhạc sỹ người dân tộc K’Ho ở Lâm Đồng . Với hai tập thơ “ Cao nguyên tôi yêu ” và “ Tôi yêu Cao nguyên ” tác giả này mang đến cho người đọc những ấn tượng khó quên không chỉ từ những câu thơ tinh tế, mà còn rất dí dỏm, theo cách nói chân thật của người miền núi.

Tại Gia Lai cũng có thêm sự xuất hiện khá là rụt rè của một giọng thơ nữ Jrai H’Bi Tô, đang được Hội VHNT tỉnh “ chăm sóc”.

Đặc biệt, từ năm 2004, vì quá “ bức xúc” với việc tìm và phát hiện những cây bút trẻ người dân tộc thiểu số, Hội VHNT Đăk lăk hai năm một lần, độc lập trích trong kinh phí hoạt động hàng năm của Hội, tổ chức lớp bồi dưỡng văn thơ cho thiếu nhi dân tộc trong tỉnh, nòng cốt là những học sinh trường dân tộc nội trú N’Trang Lơng và học sinh giỏi văn cấp hai ở các huyện. Công việc chẳng dễ dàng gì, vì ngay từ tháng 5 đã phải có công văn cho các phòng Giáo dục, các trường dân tộc nội trú huyện, để làm công tác tuyển chọn, tìm địa chỉ, đợi các em nghỉ hè mới tổ chức được lớp. Thế những nhờ vậy mà đã có 100 lượt em, tuổi từ 15 đến 18, tham gia bốn lớp bồi dưỡng này. Không chỉ có thiếu nhi người dân tộc bản địa, mà còn có con em các dân tộc phía Bắc cùng tham dự . Bốn tuyển tập Hoa rừng chọn từ các lớp bồi dưỡng này, đã giúp một số em tự tin hơn, mong muốn được đi tiếp trên con đường sáng tạo văn học như các lớp đàn anh đàn chị. Hai cô gái Êđê H’Phi La Niê và H’Wê Ra theo học lớp đại học viết văn dành cho đối tượng người dân tộc thiểu số, của Trường Đại học văn hóa Quân đội Hà Nội ( đều đã được kết nạp Đảng tại trường) . Hai cây bút đang rất sung sức và yêu nghề. Rất tiếc, ngày đó Hội VHNT tỉnh Kon Tum cũng đã cử tuyển một nữ sinh giỏi văn người dân tộc Sê Đăng, nhưng bản thân em không ham thích, nên đã từ chối.

Phía Đăk Nông, cô bác sỹ đa khoa tương lai Hoàng Nhật Rla Yang, nếu không quá bận bịu với việc chuẩn bị hành trang để phục vụ sức khỏe cho cộng đồng, chắc hẳn đã hứa hẹn vai trò một tác giả, như hai người bạn đồng niên Êđê nói trên. Đây chính là “ của hiếm” trong cộng đồng người dân tộc Mnông ở cả hai tỉnh Đăk Lăk và Đăk Nông.

Có thể vui hơi sớm. Nhưng việc đội ngũ những người viết văn dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên ngày càng được bổ sung, thậm chí cả được đào tạo bài bản; tuy mới chủ yếu sôi nổi ở Đăk lăk, chính là một việc làm đúng đắn, có hiệu quả từ sự quan tâm của các Hội VHNT, mà Đăk lăk là nơi mở đầu.

Các dân tộc thiểu số Trường Sơn – Tây Nguyên vốn có một kho tàng văn học truyền miệng , đặc biệt là lời nói vần, vô cùng đồ sộ. Lời nói vần làm nên những bộ luật tục chi phối toàn bộ đời sống vật chất và tình thần của mọi thành viên trong cộng đồng. Lời nói vần là kết cấu chính của thể loại trường ca, sử thi. Lời nói vần là kinh nghiệm sản xuất, lề thói ứng xử được truyền dạy, là phương tiện ngỏ lời yêu lời thương của gái trai. Bên cạnh đó là những câu chuyện cổ tích, ngụ ngôn, cũng phong phú và giàu có không kém.… Thơ văn dân gian miền núi xuất hiện hàng ngày,hàng giờ trên nương rẫy, ngoài suối nước, bên bếp lửa nhà sàn…Thế nên nếu viết văn, làm thơ bằng tiếng mẹ đẻ, chắc chắn sẽ dễ dàng hơn với người thiểu số, so với viết bằng tiếng phổ thông. Trong thực tế, nói tiếng Kinh đã như là học thông một ngoại ngữ, thì dù giỏi tiếng Việt đến mức nào đi nữa, làm thơ, viết văn bằng tiếng phổ thông đối với người dân tộc thiểu số vẫn không dễ chút nào.

Những thế hệ viết văn người dân tộc đi trước, có thể có những khiếm khuyết, vì hoàn toàn viết theo bản năng, hay mày mò tự học, cũng không có những người am hiểu văn học dân gian truyền thống để hướng dẫn.

Thế nên khi lần đầu tiên tổ chức lớp viết văn cho thiếu nhi dân tộc ở Đăk Lăk, Hội VHNT đã lưu ý đến việc khuyến khích các em viết bằng hai thứ tiếng. Cách ấy đến nay, sau bốn lượt lớp bồi dưỡng hè, vẫn phát huy tác dụng tốt, bước đầu ở các em đã hình thành tư duy sáng tạo gắn với ngôn ngữ tộc người của chính mình. Bởi khác với thế hệ đi trước, phải xa rời quê hương từ rất sớm, các em lớn lên từ khói bếp trên mái nhà sàn ở buôn làng, đôi bàn chân trần lội qua con suối đêm ngày róc rách tự tình để đến trường mỗi sớm; nên ngôn ngữ dân tộc thấm đẫm trong hơi thở, giọng nói hàng ngày, khiến em nghĩ bằng lối nói của chín miình sẽ sâu sắc hơn.Việc chính các tác giả đi trước ở Đăk lăk đã làm là hướng cho những cây bút tương lai, biết tìm và giữ lấy cái gì ở văn học dân gian truyền thống, cũng như viết những gì về cuộc sống ở con người và buôn làng mình, như lớp cha chú đã từng làm. Chưa thể đòi hỏi sự trọn vẹn, chưa thể có được những tác phẩm mang giá trị cao cả về nội dung lẫn thể loại, cũng như việc phát huy giá trị tình thần của di sản văn học truyền miệng quý báu mà Tây Nguyên có sẵn, nhưng hy vọng là điều chúng ta có được. Và cũng chính điều ấy giúp các em tự tin hơn. Những H’Siêu Byă, H’Xíu Hmok, Mã Thị Vân Anh, A Yun Ánh Hồng…là niềm hy vọng mà chúng ta trông đợi.
Từ trái qua: AYun Ánh Hồng, H Rut Niê, NV. Hồng Chiến, H Xíu H Mok, H Siêu Byă
(Trại hè 2008)
Một cái cây non dẫu có tự nhiên mọc giữa rừng, cũng phải qua tháng năm uống sương, tắm nắng gió, bám rễ sâu vào đất đỏ ba zan, mới góp thành đại ngàn. Để định hình một tác giả dân tộc thiểu số lại càng không phải là việc một sớm, một chiều, nhưng chúng ta có quyền hy vọng và trông mong ở tấm lòng của các Hội VHNT địa phương trong khu vực, đặc biệt là Hội Nhà Văn và Hội Văn nghệ dân tộc thiểu số, cũng sẽ có sự chuyển biến trong tư duy bồi dưỡng, đào tạo lực lượng sáng tạo này. Để văn học đương đại khu vực Trường Sơn – Tây Nguyên sẽ có ngày thật sự khởi sắc.

Xuân Tân Mão theo gió cao nguyên lồng lộng, phơi phới tràn về trên mọi nẻo đường. Chúc cho những cây bút văn chương người dân tộc thiểu số Trường Sơn – Tây Nguyên mỗi ngày một thêm đông đảo, nhiều hương thơm,đậm sắc như hoa rừng mùa xuân.

Linh Nga Niê Kdăm

MÀU CUỘC SỐNG

Tôi chưa từng nghĩ cuộc sống có màu gì. Đối với tôi, mỗi ngày đi qua là một ngày mẹ còng lưng phơi nắng, làm lụng toan lo cho miếng ăn của cả nhà. Mẹ cặm cụi và thầm lặng, chẳng bao giờ tôi thấy mẹ than vãn hay phàn nàn điều gì, chỉ đôi khi, đâu đó vọng lại chút nhọc nhằn hằn nơi khóe mắt. Năm tháng qua đi, màu nâu đỏ của miền đất dưới chân mẹ cùng tuổi thơ tôi chơi trò đuổi bắt. Tôi cũng học cách cầm cán cuốc, tỉa đậu, tỉa bắp. Rồi cũng lấm tấm mồ hôi mỗi khi làm luống cỏ. Giọt mồ hôi có vị mặn chát chẳng đủ làm tôi băn khoăn. Lúc đó, tôi đơn giản chỉ mong sao mình không phải làm nhiều, không phải phơi thân dưới nắng, chừng đó là đủ vui rồi.
Tôi chưa từng hỏi cuộc sống có màu gì. Mùa lúa chín vàng rộm khắp cánh đồng. Chẳng còn đám chim chèo bẻo, chim se sẻ hay bay ra đậu trên ngọn lúa uống những hạt sữa non khi lúa còn đang búng sữa; đám chim bao phen khiến tôi mệt phờ vì phải chạy đầu bờ cuối ruộng. Khi mùa lúa chín chúng đã bay đi hết, chỉ còn lũ chuột đồng cứ hở ra là cắn tươm đám lúa chín. Thêm những ngày đi cắt cỏ bờ, giăng lưới bẫy chuột. Màu vàng của lúa nhìn nao cả cánh đồng, những bông lúa đu đưa trong gió, cảm giác trĩu nặng căng tràn trong những hạt vàng lay lay báo hiệu mùa lúa đầy.
cánh đồng quê tôi sau mùa gặt (ảnh chụp 2011)
Tôi không nhớ đã bao giờ thắc mắc cuộc sống có màu gì. Hành trình đến lớp thật ngắn không đủ để tôi suy nghĩ vẩn vơ nhiều thế. Trang vở, màu áo sáng cả một thời học sinh vô tư lự. Đi học là niềm vui bởi tôi không phải ra đồng hay lên rẫy ngày hôm đó với một lý do chính đáng. Tôi đi học. Những tấm giấy khen, những điểm mười đỏ chói, những giấy chứng nhận nọ kia khiến trong mắt mẹ lấp lánh niềm vui. Đôi mắt mẹ sáng hơn, long lanh hơn những khi ấy. Tôi thấy vui vì điều đó, cũng thấy tự hào thầm với chính mình.
Tôi nhớ loáng thoáng rằng mình cảm thấy cuộc sống màu hồng vào cái ngày tôi nhận được giấy báo trúng tuyển đại học. Cả thế giới quanh tôi mới rực rỡ làm sao. Có lẽ khi ước mơ thành sự thật, người ta cũng cảm thấy như tôi lúc này. 12 năm đèn sách miệt mài và tháng ngày khổ sở ôn thi giờ đây được đền đáp xứng đáng. Nhưng rồi chợt nhận thấy một khoảng tối trong màu mắt mẹ. Dù mẹ rất vui, rất tự hào nhưng sao đáy mắt kia vẫn ẩn chứa những khoảng tối? Tôi xa nhà, xa mẹ. Khoảng cách xa xôi hơn khi những khoản đóng học, sinh hoạt nơi thành phố cuốn tôi đi với những công việc, những toan lo bộn bề. Tôi ít về thăm mẹ, ít có thời gian rảnh để gọi điện nói chuyện với mẹ. 4 năm đại học là khoảng thời gian dài đằng đẵng. Tôi về thăm nhà, thấy tóc mẹ sợi bạc nhiều hơn, vết chân chim in dấu nhiều hơn.
Tôi không còn nhớ rõ tôi đã băn khoăn rằng cuộc sống có màu gì từ khi nào. Một ngày trời nắng chói chang và tôi đang suy nghĩ mông lung về điều gì đó. Con đường rộng và dài không môt bóng cây. Cái nắng đổ xuống đường như trách móc. Tôi bước đi mà không để ý xung quanh mình đang diễn ra điều gì. Khi sực tỉnh là lúc tôi nghe thấy có một tiếng va chạm thật mạnh. Rầm... huỵch...ự.... tôi cảm thấy đau nhói ở đâu đó, không xác định được là chỗ nào. Đám đông lô nhô tụ tập lại, và trước khi mắt mình khép lại, tôi cảm thấy hình như thế giới có màu đỏ.
***
Người con gái lững thững đi qua đường, con đường chang chang nắng, đông đúc những người và xe. Chiếc đèn đỏ sáng lên rồi nhấp nháy. Cô gái vẫn bước, dường như tâm trí đang để tận nơi đâu. Cô mới trải qua một cuộc cãi vã, mà không, tranh luận thì đúng hơn. Cô tranh luận với người bạn của mình và cả hai đã gay gắt, không ai chịu nhượng bộ. Có lẽ cô đang bận suy nghĩ về vấn đề đó chăng? Hay một vấn đề gì khác, không rõ nữa. Có điều cô vẫn đang bước đi vô thức, dù đèn đường bây giờ đã chuyển màu xanh.
Chiếc xe RS chạy với tốc độ cao đang băng qua ngã tư. Người chủ ngồi trên chiếc xe có lẽ đang rất vội, vừa chạy, anh ta vừa nhấn còi liên tục, thậm chí không thèm giảm tay ga khi đến ngã tư. Một đường cua lão luyện bỗng nhiên bị khựng lại. Tiếng phanh rít dữ dội, tiếng la hét thất thanh và tiếng vật gì rơi nghe lạnh lùng. Brừm... ke..et...Huỵch... máu chảy lênh láng một góc đường, người đi đường tò mò bu vào, con đường vốn đã đông đúc lại càng chật chội hơn. Cô gái nằm sõng soài trên vũng máu, bất động, mặt tím tái. Người chủ chiếc xe vừa gây tai nạn ngây dại nhìn chiếc xe rồi quay sang nhìn vũng máu. Những người đi đường nhìn nhau ngơ ngác, chừng cô gái kia không qua khỏi. Tiếng xe cấp cứu réo còi ầm ĩ, tiếng cảnh sát giao thông điều tiết cho xe chạy, đoàn người tản dần ra, chỉ còn chiếc xe nằm đó, chỏng chơ gần vũng máu lênh láng lúc này đã bắt đầu khô lại chuyển sang màu đỏ thẫm.
***
Tôi cảm thấy râm ran đâu đó, tê tê đâu đó. Có tiếng thì thầm gì đó bên tai, nghe rất gần những cũng rất xa xôi, như từ cõi nào vọng lại. Hình như ai đó gọi tên tôi, tâm sự thầm thì với tôi. Mơ hồ mà cũng rất thật. Tôi cảm thấy bàn tay mình ấm nóng, bàn tay chạm vào một cái gì đó mềm mềm, mượt mà. Hình như đôi má hay làn môi ai đó. Nhưng tôi không rõ là ai. Tiếng tít tít đều đều, tiếng thở nhè nhẹ, không khí thoang thoảng mùi cồn. Mùi ấy khiến tôi nhức óc. Tôi muốn vùng dậy, ra ngoài kia hít thở không khí trong trẻo. Chợt nhận ra thế giới xung quanh đâu đâu cũng một màu trắng muốt, trắng đến lạnh lẽo, rợn người. Cửa sổ trắng, căn phòng trắng, chiếc ra giường cũng trắng. Thậm chí, qua khung cửa sổ, bầu trời trên cao cũng một màu trắng. Tôi đâm hoảng hốt, tôi cố vùng vẫy, cố la lên nhưng cảm thấy bất lực. Tôi vẫn bất động. Có điều, dường như có một cái gì đó đang tiến lại gần, một bóng trắng không rõ hình thù đang tiến lại gần tôi. Và rồi, đột nhiên, như một hành động không báo trước, bóng trắng ấy ở gần tôi, chỉ cách một gang tay. Và, tôi thấy có một ánh sáng lóe lên cuối đường hầm, không còn là ánh sáng lòa xòa hư ảo ban nãy, nó trở nên rõ rệt như ánh sáng hải đăng chỉ đường để tàu tránh dải đá ngầm vậy. Tôi nghe đâu đó có nụ cười vỡ òa, không thành tiếng, sự vui mừng đang trở lại đâu đây. Hình như có cái gì đó nóng bỏng rớt xuống tay tôi, tong tong.
Tôi không còn cảm thấy mình phải suy nghĩ quá nhiều xem thế giới có màu gì, bởi tôi thấy thế giới có rất nhiều màu, có những màu sáng và cả những màu tối. Nhưng tôi thấy rõ một điều, tôi còn may mắn, còn sống và còn cảm nhận được từng mảng màu ấy từng ngày, một cách tràn đầy và trọn vẹn. Thật lạ lùng vì có lúc tôi đã nghĩ cuộc sống này thật nhạt nhẽo và đơn điệu. Trải qua một biến cố để nhận ra rằng, cuộc sống còn quá nhiều điều khác chờ tôi. Còn nhiều màu sắc đang chờ tôi khám phá, và trên hết, có những con người đang âm thầm chờ đợi và dõi theo tôi. Tôi đã tìm được những gam màu trong cuộc sống của mình. Còn bạn, cuộc sống của bạn có màu gì?