Lời cảm ơn

Cảm ơn bạn đã ghé thăm blog của Mèo Con Anx, hi vọng tiếp tục nhận được sự ủng hộ của bạn.
Mến chúc bạn luôn vui tươi và tìm thấy nhiều điều ý nghĩa trong cuộc sống nhé!

25 tháng 11, 2013

SÀI GÒN VẪN ĐỢI NÓ VỀ THÔI

Lý Văn Lợi-Tác giả bài viết (nguồn: FBNV)
Sài Gòn hiện hữu trong đầu nó những ngày học phổ thông là qua những biển ghi lộ trình trên những chiếc xe Buôn Ma Thuột – Sài Gòn. Ngày ấy, nó mơ mộng lắm, nó quyết tâm học thật giỏi để mai sau xuống Sài Gòn học. Sài Gòn trong nó lúc ấy viển vông đến vô cùng. Có chăng nó cũng chỉ hình dung ra nơi đó người đông chen chúc như cảnh chợ búa mà lâu lâu nó được mẹ dắt theo một lần, nó chỉ hiểu được như vậy.
Nó chắc chắn sẽ nhớ như in cảm giác lần đầu đến nơi mà nó nghĩ nó sẽ theo học đại học, ngồi trên xe, nó bơ vơ một mình lọt thỏm phía hàng ghế cuối cùng, nó sẽ đến Sài Gòn chỉ trong chiều tối nay thôi. Sài Gòn cứ miên man trong đầu nó như thế nào nó không tưởng tượng nổi nữa. Và rồi, Sài Gòn chào nó vào buổi chiều tà, trong khung giờ cao điểm của thành phố khiến nó choáng ngợp mà nước mắt trào ra chỉ vì không dám qua đường. Sài Gòn nơi nó mơ mộng là đây.
Sài Gòn gắn bó với nó bắt đầu bằng những ngày đầu bỡ ngỡ, chập trững những bước đi đầu của chàng trai lần đầu bước khỏi lũy tre làng để đến với chốn phồn hoa đô hội, nó bị choáng ngợp với tốc độ của cuộc sống nơi đây, những dòng người xuôi ngược, những hàng xe nối dài mà đợi chờ mãi nó cũng không dám băng qua đường. Sài Gòn những ngày ấy khiến nó phải tự lập, nó khóc vì nhớ nhà, vì những lời nặng nhẹ của những đứa bạn cùng phòng kí túc xá đã chính thức cướp mất sự dỗ dành, chở tre của ba mẹ dành cho nó khi ở nhà.

Sài Gòn năng động, ồn ào, Sài Gòn không còn nữa những người thân bên cạnh nó, khiến nó phải hòa mình vào cuộc sống nơi đây. Sài Gòn đến với nó dữ dội quá, ấn tượng quá, đôi lúc nó muốn từ bỏ giấc mơ thành một chính trị gia để về với buôn làng yên ả, được oằn mình với những thác nước xoáy tít, được thả mình dưới những dòng sông quê, được về bên những trợ thụ đắc lực nhất để không phải bon chen, để được bảo vệ tối đa. Nhưng, Sài Gòn bén duyên với nó khi nó bước vào giảng đường thực sự. Rồi nó cũng quen với những con người xa quê vào Sài Gòn học như nó, nó thấy không còn cô đơn và xóa đi cảm giác tủi tủi khi nhớ nhà nữa, Sài Gòn giờ đây đã tạo cho nó cái đồng hồ sinh học với nhịp đều đặn để kịp với guồng quay mang tên năng động.
Nó mang đến Sài Gòn một con người chân chất và ngơ ngác như nai tơ đúng chất của núi rừng Tây Nguyên, thời gian cứ trôi đi lặng lẽ, nó cũng lớn dần lên, nó không còn nai tơ mãi nữa, nó thành cáo lúc nào không hay, nó đã là công dân của Sài Gòn, là sinh viên của Đại học Khoa học xã hội nhân văn, nó có nhóm học tập, có những người để sẻ chia mỗi lúc vui buồn. Nó xông xáo với những cuộc thi học thuật từ cấp khoa đến trường tổ chức. Nó đã biết lang thang Sài Gòn qua những tiệm sách cũ để rồi mọi chủ tiệm đều ấn tượng nó, nó thích cái cảm giác cứ đến là cô chủ lại hỏi nó : “ Đọc “hớt” chưa con” ? Nó mê sách mà đến nỗi mỗi lần mua lại được tặng thêm mà duy nhất chỉ có nó, đúng là khách hàng thân thiết mất rồi.
Nó có những người bạn thân đến từ mọi miền, nó không quên những buổi chiều lang thang Làng Đại Học thưởng thức những món sinh viên mà cả nhóm nó khoái khẩu nào là Cháo lòng Tân Tiến, nước mía Bà Hai, Tàu Hũ thể thao...Nó có những mùa Noel đáng nhớ với những người bạn, nó được thỏa thích chụp hình dưới những ánh đèn trang hoàng lộng lẫy mà dường như thành nét riêng của Sài Gòn, được chen chúc vào đám đông đến nghẹt thở khu quanh nhà thờ Đức Bà mà mãi hôm sau mới về phòng. Và, nó hạnh phúc khi được gặp thần tượng của nó qua những show diễn ở Kí túc xá mỗi dịp xuân về.
Sài Gòn của những ngày thân thương với nó ghi dấu nhất vẫn là những giờ học trên giảng đường, Nó luôn mang trong con người nó phương châm “Học hết sức, chơi hết mình”. Nó quên sao được cảm giác khi lần đầu nghe tên những Tiến sĩ, Phó giáo sư, Giáo sư sẽ phỏng vấn nó trong vòng thi tuyển chọn vào lớp Cử nhân tài năng, nó run run mà người ướt đẫm mồ hôi khi lần đầu trong cuộc đời nó được trải nghiệm, nó sẽ hằn ghi dấu với những bài tiểu luận khó mà tìm tài liệu mãi không ra dù đã chạy ngược xuôi từ thư viện trường đến thư viện tổng hợp, nó của sinh viên năm ba đánh dấu chút gì đáng tự hào khi dám thuyết trình trước đám đông mà được giảng viên tấm tắc khen.
Sài Gòn với nó không còn xa lạ nữa, nó yêu Sài Gòn từ lúc nào không hay, nó chưa bao giờ buột miệng để nói ra nhưng nó cảm nhận được nó yêu Sài Gòn lắm, nó yêu những chuyến xe buýt ngược xuôi, rong ruổi trên khắp các ngả phố, nó yêu những cô hàng quán ven cổng trường luôn niềm nở và cho nó những món ngon mà nó không bao giờ quên và nhiều nhiều lắm những điều nó không sao kể hết.
Nó nhớ Sài Gòn. Nhớ lắm, Sài Gòn đã cho nó nhiều thứ quá, Sài Gòn dạy nó mạnh mẽ hơn, bản lĩnh hơn, Sài Gòn cho nó biết nó là ai và nó phải làm gì, Sài Gòn cho nó môi trường học thuật quá tuyệt vời, cho nó những người bạn mà mỗi khi nhắc đến là biết bao kỷ niệm ùa về. Đêm nay, nó lại ngồi viết, nó viết với một tâm trạng khoan khoái xen lẫn chút gợi buồn, nó đã sống và đã xa Sài Gòn hơn hai tháng nay rồi, ừ, Sài Gòn vẫn cứ tấp nập, vẫn tắc đường, trên giảng đường vắng nó thì đàn em đã thay thế. Dẫu vẫn biết gặp nhau rồi lại xa nhau là thường, bởi đời người là những chuyến đi nhưng sao xa Sài Gòn nó thấy bồi hồi đến thế. Hễ có gì là nó lại đem Sài Gòn để so sánh, để ví von trong suy nghĩ của nó, Sài Gòn không mưa dầm như quê nó, Sài Gòn món gì cũng có...Tim nó sao cứ se thắt lại, Sài Gòn đã đi vào trong tâm hồn nó, Sài Gòn sẽ là một chương lớn trong cuốn nhật ký của nó, nó sẽ dựng một clip thiệt hoành tráng về thời sinh viên mà hai tiếng Sài Gòn cho phông nền sẽ đủ để bao hàm tất cả.
Xa Sài Gòn, nó nhớ da diết, nó vẫn sẽ trở lại, sẽ trở lại một ngày gần nhất thôi, về với Sài Gòn nó sẽ làm những điều nó đã từng làm, sẽ đến những nơi nó từng đến, lúc đấy chắc nó sẽ thỏa thích lắm đây. Sài Gòn ơi, mảnh đất đến rồi đi sao thấm đượm nghĩa tình đến thế. Nó lật lại thơ Chế Lan Viên mà nó hay ngấu nghiến thời phổ thông mơ mộng ấy. 
“Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn”
Nó chợt giật mình, giữa đại ngàn Tây Nguyên những tiếng gà đã gáy, màn đêm im ắng để nó viết về Sài Gòn như người tình lâu năm đã sáng dần lên. Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn. Sài Gòn ơi! Ta với mi đã là một, tâm hồn ta đã có Sài Gòn sâu sắc đến mặn nồng. Sài Gòn ngày Nó đến gần đây chắc chắn sẽ đổi thay nhiều thêm, và nó sẽ có niềm vui riêng ở đất Sài Gòn vào ngày làm lễ Tốt nghiệp. Rồi Sài Gòn vẫn đợi nó về thôi.
Theo: Lý Văn Lợi
(Nguồn: Facebook)

31 tháng 10, 2013

NẮNG CŨNG ĐANG VUI

- Chúng mày ơi lại chơi bắn bi đi.

- ừ, hôm nay tao được mấy viên bi mới đẹp lắm. Hết chê nha.

- Đợi đấy, tao sẽ thắng mày cho coi.

- …

Tiếng đùa vui ríu rít, tiếng cãi cọ chí chóe của đám trẻ bên kia làm em chú ý. Em đứng đó, bên kia lớp hàng rào cao ngất kẽm gai, lặng lẽ nhìn đám bạn cùng trang lứa đang chơi bi, đôi mắt thèm thuồng. Nhìn chúng chơi, tranh giành mấy hòn bi bé xíu tròn vo, thi nhau bắn trên nền đất mà em thấy tủi thân. Em khao khát được vượt qua lớp rào này chơi cùng tụi nó, có bầu bạn sẽ vui hơn chứ. Ừ, nhưng chỉ trong tưởng tượng của em thôi. Niềm khao khát tưởng chừng bé nhỏ ấy bao giờ mới trở thành hiện thực với em đây?... Trống đánh …tùng, tùng…Đám trẻ con thu vội những viên bi nhiều màu, hẹn nhau hôm sau chơi tiếp rồi chạy nhanh vào lớp học, trả lại không gian yên ắng cho sân trường. Giờ giải lao hết rồi.

Em lại bước đi, một mình trên con đường vắng. Em không dám về nhà. Từ sáng đến giờ em chưa xin được đồng nào cả, giờ mà về cha hỏi em biết nói thế nào đây? Cha lại đánh mắng em cho coi. Nhưng giờ trưa nắng, đường vắng tanh, em biết xin ai đây? Em bước vào quán giải khát bên lề đường, có vài người đang nghỉ chân ngồi uống nước trong quán. Em bước tới giọng run run, chìa đôi bàn tay gầy guộc nhỏ xíu ra xin: “cô chú ơi, cô chú cho cháu xin chút gì để ăn… cháu, cháu nhịn đói đã mấy ngày nay rồi,… cô chú làm ơn…”. Đôi nam nữ quay lại nhìn em, vẻ mặt khó chịu. Cô gái gắt gỏng, giọng chanh chua:

- Xin cái gì mà xin. Có cái gì mà xin với xỏ.

Rồi quay sang người bạn trai đi cùng: “Đấy, bảo anh rồi, ngồi đâu không ngồi lại chọn cái quán vỉa hè này, cứ người ra vào, kẻ xin xỏ… mất cả vui…”. Nói rồi cô ta đứng phắt dậy bỏ đi không thèm ngoái lại. Người bạn đi cùng vội vã trả tiền rồi rảo bước chạy theo, “Ô kìa, em,… chờ anh với…”. Em đứng đó, ngẩn người nhìn theo đôi trai gái khoác tay nhau đi xa dần.

Em lại bước đi, một mình trên con phố vắng. Dáng nhỏ gầy còm in liêu xiêu trên con đường nhỏ, như một chấm tròn trong cái nắng ban trưa. Đôi mắt nhìn xa xăm vào khoảng trời trước mặt. Em vẫn tiến về phía trước, dù chưa biết đích tới là đâu. Biết bao giờ mới có cái đích đến để em dừng lại? Mái tóc cháy nắng vàng khè dường như làm lụp xụp thêm khuôn mặt gầy gầy xanh xao của em.

Gia cảnh em tội lắm. Nhà em nghèo, cha lại rượu chè say xỉn liên miên, một mình mẹ gánh gồng nuôi cả nhà. Mẹ đau nặng nhưng không có tiền đi viện, cứ ráng đi làm đến kiệt sức rồi mất trong cảnh nghèo khó, bỏ lại em với người cha ngày ngày chỉ làm bạn với ma men. Gia cảnh càng kiệt quệ, người cha càng lún sâu trong vũng bùn. Khi mẹ mất, em mới năm tuổi. Mồ côi mẹ, cha chìm đắm với ma men, em như đứa trẻ mồ côi không nơi nương tựa, bơ vơ lạc lõng giữa dòng đời. Em không được đi học, không được đi chơi với đám bạn, chỉ suốt ngày quanh quẩn trong nhà, chờ đợi trong nỗi sợ hãi những cơn say của người cha. Cha em, người suốt ngày đi ra khỏi nhà từ sáng sớm và trở về nhà khi đã cháy túi, mộng mị với cơn say, thường trút lên em cái giọng lè nhè nát rượu, ông hay nói gì không rõ nữa, chửi rủa, khóc khóc cười cười như đang nói chyện với ai đó. Những lúc như thế em sợ cha lắm, chỉ nép một góc và im thin thít, thấp thỏm chờ đến khi cha ngủ say mới dám bước ra. Hàng xóm thương cậu bé mồ côi đáng tội nghiệp vẫn hay cho em khi chén cơm nguội khi củ sắn củ khoai.

Lớn lên tí nữa, người cha bắt em đi ăn xin, kiếm tiền về đưa ông ta. Em rong ruổi trên từng con đường, từng quán xá, chìa đôi bàn tay bé nhỏ ra xin những người qua đường. Có người thương tình cho em vài đồng bạc lẻ hoặc miếng bánh con con. Tiền xin được em phải nộp hết cho cha, nhưng bao nhiêu rồi ông cũng mua rượu hết. Vậy mà chưa yên, càng có tiền cha càng uống rượu, càng say cha càng chửi nhiều hơn. Em sợ mỗi khi thấy cha như vậy, em sợ cha lắm.

Lớn lên tí nữa, khi bạn bè cùng trang lứa cắp sách tới trường. Chúng ríu rít kể về trường học, về thầy cô giáo dạy chúng, về con chữ, con số được học, rồi về những trò chơi thú vị ở trường. Em nghe mà thích thú biết bao, em cũng ước ao được đến trường, được gặp cô giáo, được đọc chữ, học số, được chơi những trò chơi thú vị kia. Em ngồi và tưởng tượng mình được đi học, được mặc quần áo đẹp đến trường,… Mỗi ngày đi ngang qua nơi mà bạn bè gọi là trường học, em cố nán lại bên hàng rào, đưa mắt nhìn vào trong qua những khe hở bờ rào, trong đó là dãy các lớp học, bàn ghế thẳng hàng, đám bạn đang chăm chú nghe giảng. Bạn nào cũng mặc quần xanh áo trắng. Mấy anh chị lớn còn đeo khăn màu đỏ trên cổ nữa. Trường học thật đẹp, cô giáo đang giảng bài cũng đẹp, chắc cô nói chuyện hay lắm, ai cũng im lặng lắng nghe.

Cuộc sống của em vẫn cứ trôi đều đều như thế cho đến một ngày, có hai người lạ đến nhà em. Một cô đẹp đẹp mà em vẫn thường nhìn thấy khi đứng nhìn vào lớp học và một chú là lạ, hình như chưa gặp bao giờ. Lần đầu tiên có khách lạ đến nhà, cũng là lần đầu tiên em thấy cha tỉnh táo, không còn lè nhè, nói những lời khó hiểu, thay vào đó, cha tươi tỉnh, ăn mặc gọn gàng ngồi tiếp khách. Em vội nép sau cánh cửa nghe ngóng tình hình, nỗi sợ hãi vẫn thường trực trong lòng. Họ nói gì với nhau lâu lắm, đôi khi thấy gay gắt nữa, em nghe nhắc đến học, đến hội gì đó, có lúc cha giận giữ, có giọng nói nhẹ nhàng thuyết phục,… Rồi em thấy cha lặng im cúi đầu, hình như cha khóc. Vì sao? Em không hiểu. Em không biết rằng rồi đây cuộc đời em sẽ bước sang trang mới, những ước mơ của em rồi sẽ trở thành hiện thực, em sẽ không còn phải rong ruổi trên từng con phố giữa trưa bỏng nắng hay ngày mưa ướt át nữa… Em nép sau cánh cửa, lặng im…

*           *

*

- Chào ama Minh, chúng tôi đến đây vì chuyện của cháu Y’Minh. Chúng tôi được biết đến hoàn cảnh cháu Minh qua lời kể của các em học sinh trong trường. Mỗi ngày đi dạy tôi hay bắt gặp Minh đứng nép bên bờ rào nhìn vào lớp học một cách chăm chú. Bạn bè cháu nói cháu thích đi học lắm… vì vậy hôm nay chúng tôi đến đây…- Cô giáo Thu lên tiếng trước ánh mắt ngờ vực của ama Minh.

- Cô là cô giáo à, ra thế. Thảo nào thằng Minh hay đi sớm về trễ mà tiền chẳng được mấy đồng. Thằng này hư quá. Đấy cô xem, tôi nói nó đi học kiếm tiền nó không nghe, lại đi lảng vảng mấy cái chỗ không dành cho mình, làm phiền tới thầy cô. Cô cứ về đi, tôi sẽ đánh nó một trận cho nó chừa, không để nó làm phiền thầy cô nữa.

- ấy, ama Minh hiểu sai rồi. Chúng tôi đến đây không phải có ý đó.- Cán bộ Y’Lâm vội đỡ lời.- Cháu muốn đi học đó là điều tốt, đáng khích lệ động viên, anh đừng đánh mắng cháu, hãy tạo điều kiện cho cháu được đến trường với các bạn.

- Học hành gì chứ, nhà tôi nghèo, tiền ăn không có, học hành cái gì chứ. Tôi là tôi phải dạy nó kiếm tiền, kiếm tiền mới no bụng nó. Học hành mà làm gì. Cán bộ với cô giáo cứ về đi, để tôi tự dạy nó được rồi.- ama Minh hậm hực.

- Anh đừng nóng giận, chúng tôi đại diện cho Hôi Bảo trợ trẻ em của Tỉnh, đang thực hiện công tác xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học tại địa phương ta. Những cháu như Minh là đối tượng mà chúng tôi rất quan tâm, chúng tôi đang cố gắng để các cháu có cơ hội được đến trường học hành…

- Tôi đã nói rồi- ama Minh vẫn khăng khăng.- thời ông cha mình ngày xưa có học hành gì đâu mà vẫn sống được, có cơm ăn no bụng, có lúa gạo đầy nhà, trâu bò đầy chuồng đó thôi. Có ai cần chữ đâu. Để nó học kiếm tiền sau này no bụng nó. Đi học chữ có no bụng đâu.

- Kìa, ama Minh, anh nghĩ vậy là không đúng. Bây giờ là thời đại mới rồi, không như ông cha mình ngày xưa nữa. Đấy anh xem, buôn mình bây giờ bao nhiêu đổi mới, máy cày thay cho con trâu con bò, nhà nào cũng có ti vi, catset để nghe những cái mới. Các cháu phải được biết nhiều cái hay cái mới sau này vận dụng để làm buôn mình thêm phát triển hơn chứ. Có như vậy mới đỡ khổ được.- cán bộ Y’Lâm chân tình khuyên giải.

- Nhưng mà….

- Anh yên tâm, gia đình sẽ không phải lo gì hết, đây là dự án do nhà nước thực hiện. Đồng bào mình được ưu tiên lắm đó… Bây giờ anh cũng nên bỏ rượu đi, rượu không tốt cho sức khỏe đâu, anh cố gắng làm ăn để có chỗ dựa cho con cháu chứ, đúng không nào….

Sau một hồi được nghe khuyên giải, dường như ama Minh đã thông đầu tận cuối, lòng xuôi xuôi hơn.

*           * 

*

Cạch…! Em giật mình, hốt hoảng làm rơi thanh nứa đặt chênh vênh trên sạp gỗ. Mọi người quay lại nhìn làm em sợ hãi định chạy đi. “Minh, vào đây.” Giọng người cha khiến em khựng lại, đứng chết trân. Em thu hết can đảm, rón rén bước vào. Nỗi sợ hãi đang ngự trị trong lồng ngực. Em nhìn cha lấm lét, đợi chờ cơn thịnh nộ sắp tới vì cái tội nghe lén tày đình. Nhưng không, lần này khác, cha chỉ gọi em lại nhẹ nhàng “Y Minh, lại đây cha bảo…”. em đỡ sợ, bước lại gần hơn.

- Chào Minh.- Cô giáo Thu cất tiếng.

- Dạ, cháu chào cô, chú.- giọng em vẫn run run, sợ sệt.

- Minh ơi, em có muốn đi học không?

Như một phản xạ tự nhiên, mắt em sáng lên, đầu gật nhanh. Rồi, như sực nhớ ra điều gì, em giật nảy người, quay lại nhìn cha. Đôi mắt long lanh vẫn còn ngờ vực, sợ hãi. Lạ chưa, cha không nói gì, chỉ nhìn em trìu mến gật đầu.

- Minh à, cô là cô giáo. Cô hay thấy em đứng bên bờ rào nhìn vào lớp học chăm chú. Em muốn đi học không? Em lên lớp học của cô nha, cô sẽ dạy em học chữ cùng các bạn…

Giọng cô ngọt ngào quá, ngọt và mềm như cây kẹo bông người ta hay bán dạo trên đường vậy. Em đưa mắt nhìn khắp lượt, cô giáo, chú cán bộ rồi nhìn lên cha. Cha không nói gì, chỉ nhìn em, gật đầu. Cái gật đầu tin tưởng, nó giúp em hiểu và tin tưởng chọn lựa điều mình sẽ làm. Em mỉm cười thật tươi, gật đầu. Ngoài kia, cái nắng gay gắt ban trưa dường như cũng dịu lại. Kìa, nắng đang mỉm cười cùng gió. Nắng cũng đang vui.

Nếu ngày đó đến

Một ngày khi bạn mở toang cử sổ
Ánh nắng của ngày mới
Sẽ chiếu rọi tâm hồn
Khi bạn buồn và chán nản
Hãy hướng tầm nhìn ra cửa sổ
Ở đó có một khoảng trời xanh
Một màu xanh hi vọng
Thắp sáng niềm tin trong bạn.

Một ngày khi bạn vấp ngã
Bạn rất đau và không thể đứng dậy
Đừng vội bỏ cuộc
Hãy gắng gượng đến cùng
Trong tận cùng mọi sự đau khổ
Vẫn luôn ẩn chứa cả sự bình yên
Và cả những hi vọng
Nếu một ngày
Cả thế giới sụp đổ dưới chân bạn
Đừng lo bạn sẽ cô đơn và bế tắc
Bởi vẫn có một người
Luôn bên bạn
Tôi sẽ đến khi bạn cần.

Nếu ngày đó đến
Bạn hãy gọi tên tôi
Bạn nhé!

Dáng mẹ

Tháng ngày trôi dáng mẹ lại càng gầy
Những nhọc nhằn lặng lẽ có ai hay
Mẹ âm thầm dìu dắt con từng bước
Đường con đi có dáng mẹ bao ngày

Dẫu biết rằng đường gian lao phía trước
Lắm gập ghềnh và cũng lắm đổi thay
Nhưng mẹ ơi, con xin gắng vững bước
Thầm trong con luôn có mẹ dắt tay

19 tháng 9, 2013

Buôn Mê xa lắm

Ngã Sáu, Buôn Ma Thuột

Buôn Mê giờ xa lắm
Mình về có kịp không?
Mùa hoa cà phê nở
Hương thơm dâng ngập lòng

Buôn Mê giờ xa lắm
Mình về có kịp không?
Mùa lúa vào chín rộ
Sắc vàng trải cánh đồng

Buôn Mê giờ xa lắm
Mình về có kịp không?
Vai gầy cong dáng mẹ
Đôi mắt mỏi chờ trông

Buôn Mê giờ xa lắm
Nhưng trong lòng không xa
Bởi với mình nơi ấy
Mãi mãi là quê nhà

9 tháng 9, 2013

Riêng em

Đôi khi em muốn làm người ích kỷ
Ôm trọn về mình những gì đẹp tươi
Nhưng em biết cuộc đời chẳng khoan nhượng
Càng tham ôm em càng đắng giữa đời

Anh chợt đến, thoảng qua như làn gió
Dâng lòng em chút nhan sắc hương tình
Và em biết ngày mai khi thức dậy
Chỉ còn em với một ánh bình minh

Bởi thế nên em sẽ chẳng ích kỷ
Chẳng trọn riêng mình những gì đẹp tươi
Chẳng tham ôm giữa một cuộc đời
Để riêng em một góc trời bình lặng



Gia Lai, tháng 6. 2013

AMÍ CÒN YÊU CHỊ LẮM


Ánh mặt trời buông tà tà sau chân đồi, con chim giật mình cất tiếng kêu lanh lảnh, cắm đầu cắm cổ bay theo ánh hoàng hôn đang nặng nề lê bước chân đi ngủ. Sâu trong rừng, tiếng chim kêu đêm nghe rợn tóc gáy...
Khói bếp lờn vờn trong căn nhà thiếu ánh sáng, vẽ nên những hình thù ma quái, chập chờn. Có tiếng ai mở cửa, cánh cửa di chuyển kêu ọt ẹt. Cô gái bước vào, đặt những thứ đang xách trên tay xuống, lại bếp khơi khơi hòn than vùi trong tro ấm, cho thêm vài nhành củi. Hồi sau, lửa bén, tiếng củi cháy nghe tanh tách.
- Mày về rồi hả?
- ...
- Sao mày không trả lời, mày ghét tao thế sao...? Thôi, tùy mày, tao không cản nữa... mày muốn đi thì mày cứ đi, đừng lo cho tao...
- Sao amí nói thế, con không lo thì còn ai lo cho amí đây...
- Tao sống một mình quen rồi, mày đi thì tao cũng không buồn đến chết đâu. Mày cứ đi đi...
- ...
Amí nói thế thôi, chứ trong lòng amí đang đau từng khúc ruột. Chị Rem bỏ đi, bỏ amí, bỏ anh Kry. Amí buồn, anh Kry cũng buồn, chỉ có chị Rem không buồn. Anh Kry thôi không sang nhà đã ba tuần nay, anh cũng thôi không nhớ chị Rem nữa. Hôm trước anh bảo buôn bên kia có người sang hỏi, anh sẽ về bên đó, sắp đeo vòng đồng của người ta rồi. Anh Kry sẽ không sang đây thăm Ry và amí nhiều như trước nữa. Đôi mắt nâu amí chợt sâu thăm thẳm, tưởng chừng có màn đêm nào lọt vào đọng lại trong đó. Amí gượng cười, mừng cho anh Kry.
Amí hơn bốn mươi, bước qua một đời chồng, amí không nối dây mà ở vậy nuôi Rem và Ry. Người amí cao to, da ngăm ngăm, tóc quăn tít cháy nắng. Amí hay ngậm cái tẩu thuốc, lâu lâu lại rít rít, khói thuốc bay vòng vèo. Amí ngồi bên bếp lửa, vừa cơi lửa vừa ngậm tẩu thuốc, Rem và Ry ngồi cạnh. Buổi tối, ba mẹ con cùng ngồi quanh bếp lửa, nướng ít bắp già hay ngồi rang bắp khô, Rem và Ry ngồi nhai lép nhép. Cái thú của tụi con nít thưở còn thơ. Ấy vậy mà vui lạ.
Cái thời ấy qua lâu rồi, chị Rem giờ đã lớn, Ry cũng lớn. Rồi thì mỗi người mỗi cách nghĩ, hướng đi riêng. Buôn của Ry giờ đông vui nhộn nhịp, đường ngang ngõ dọc chạy thẳng tắp. Người trên phố hay ghé về, lục tìm thứ gì đó, rồi đi. Họ khác người ở đây, từ lối ăn nói đến cách ăn mặc. Họ là người thành phố mà.
Hai chị em Rem và Ry mỗi người mỗi nét. Chị Rem mảnh mai, cao dong dỏng, da ngăm nhưng tươi tắn, nhìn thích mắt. Ry cũng da ngăm, nhưng lùn hơn chị. Ry có chiếc răng khểnh, đôi mắt sáng. Chị Rem lớn hơn Ry hai tuổi mà ra chiều thiếu nữ lắm, đám con trai trong buôn cứ đi theo hoài, nhưng mà chị Rem không ưng người nào. Chị Rem hay ngồi một mình bên bờ suối, suy tư rồi bất chợt cười một mình. Anh Kry lớn hơn Rem một tuổi. Hồi nhỏ ba anh em hay chơi chung. Anh Kry dạy chị em Rem thả diều, cưỡi bò và đi tắm suối. Thời đó lông nhông cả ngày, về tới nhà là trời sẩm tối, amí thường la mắng, sao chúng mày ham chơi không chịu nhìn mặt trời mà tìm lối về nhà. Sau này cả ba lại đi học chung, chị Rem chỉ cho Ry với anh Kry cách đọc, cách viết. Chữ anh Kry xấu tệ, nguệch ngoạc như giun bò nên bị chị Rem chê hoài.
Ba người thân nhau là thế, cứ tưởng rằng chị Rem với anh Kry rồi sẽ thành một cặp. Nhưng lớn lên rồi, mọi thứ đều khác. Anh Kry có thích chị Rem, chắc là thế. Đi rừng về, anh hay dành riêng cho chị một nhành lan rừng mọc bám vào thân cây, anh cưa ngang đoạn cây, giữ gìn cẩn thận sợ làm hoa lan héo. Nhưng chị Rem chẳng để ý điều đó, hoặc cố tình không để ý. Chị nhận hoa lan của anh với sự thờ ơ, hờ hững. Chị bảo, hoa đẹp rồi cũng tàn, đẹp chỉ là khi chúng ở trên cành, hoặc là chúng được chăm sóc nâng niu...
Chị Rem thích xem phim. Nhà ama Yoi có cái ti vi màu cũ chiếu phim vào buổi tối, tối nào chị cũng đi xem, xem rồi về hay ngồi ngẩn ngơ, cười mỉm. Anh Kry không thích xem phim lắm, nhưng tối nào cũng qua xem, đi cùng chị Rem, rồi đưa chị về. Hầu như ngày nào cũng thế, như thể đó là điều hiển nhiên và cũng không mấy ai bận tâm nhiều, trai gái thanh niên mà, tuổi đó nó vậy.
Rồi một hôm, có một nhóm làm phim về buôn tìm kiếm diễn viên cho bộ phim mới. Chị Rem đăng ký đi liền, rồi chị đậu thật, và chị đi, chắc chắn là chị đi. Trước ngày chị đi, amí hỏi chị có phải con amí không? Chị nhìn amí trân trân, vẻ khó hiểu. Amí nói, nếu chị là con amí thì hãy ở nhà, đừng đi theo người ta, con gái trong buôn này chưa ai đi xa cả, amí không muốn chị đi như thế. Rem ngậm ngùi, nước mắt lưng tròng. Thôi thì, không đi nữa. Rem trở nên ít nói ít cười, cứ ra vào lầm lũi như cái bóng, chẳng nói chẳng rằng. Một đêm nọ, Rem khóc. Ban đầu chỉ khóc thầm, rồi trở nên rấm rứt, amí nghe được, hỏi lý do, hỏi hoài chị không nói, amí tức rồi amí chửi. Chị lặng im, không khóc thêm.
Căn nhà xưa bỗng vắng tiếng nói cười, Rem không còn bước ra bước vào với những câu hát thầm lẩm nhẩm trong miệng, đôi mắt trong biết nói không còn mở to ngước nhìn bầu trời mơ mộng nữa, chị Rem đi thật rồi. Amí lặng câm, ra vào như cái bóng, ngọn khói tẩu thuốc vẫn trôi vòng vèo trong không khí, có điều, nó bỗng trở nên câm lặng nhiều hơn. Ry nhìn đôi mắt amí, đôi mắt sâu và đen, một màu tối thăm thẳm, và buồn. Ry biết, amí thương chị Rem nhiều lắm, nhớ chị Rem nhiều lắm, có điều amí không nói ra thôi. Dường như mọi sự nhớ thương đều được amí dồn nén vào làn khói thuốc cả, bởi thế, amí lặng thinh không nói câu nào. Ngày anh Kry làm lễ cưới, đeo chiếc vòng đồng của chị Nhon ở buôn bên, amí lặng lẽ quay đi, lầm lũi bước vào chái bếp, cời lại ngọn lửa đã tắt ngúm, than cũng chẳng còn hồng. Anh Kry làm rể bên đó, ngày ngày cùng vợ lên đồi, hai vợ chồng xem chừng hạnh phúc, anh Kry cũng hiền lành lại chịu khó, nhưng biết sao được, anh không có duyên làm rể nhà amí, nên đành thôi.
Một năm trôi qua mà tóc amí bạc hơn nửa đời người, amí thôi không nhớ thương chị Rem nữa, có lẽ vậy. Amí vẫn lặng lẽ, ra vào như cái bóng, trong ngôi nhà dài quạnh vắng. Anh Kry giờ đã có đứa con gái kháu khỉnh, mắt tròn long lanh, mở to chớp chớp hàng mi cong, nhìn mà yêu lắm. Amí thường nhìn con bé, lại có chút cảm xúc gì đó, bồi hồi, rưng rưng. Ry cũng lớn rồi, cũng biết cách dệt được cái chăn đẹp, bổ củi, giã gạo đã thành thạo. Thôi thì cũng đến tuổi rước rể còn gì.
Đêm, bên bếp lửa. Hai cái bóng đổ dài trên vách nứa, lập lòe lay lay theo ánh lửa trong đêm. Amí ngồi trầm ngâm, Ry ngồi bên cạnh. Rồi amí hỏi:
- Tuổi thì cũng tới tuổi rồi. Mày có ưng thằng nào chưa?
- ... Sao amí lại hỏi chuyện đó?
Ry ngập ngừng, thẹn thùng đỏ mặt, bất ngờ trước câu hỏi mà amí chưa bao giờ nhắc đến. Từ khi chị Rem đi, Ry quen dần với việc không có chị và anh Kry bên cạnh cùng chơi đùa, đổi công hay đi xem phim bên nhà hàng xóm. Ry thường lủi thủi một mình, lâu lâu cũng đi chơi với mấy cô gái khác cùng tuổi. Nhưng mà đi thế thôi, chứ có bao giờ để ý chàng trai nào trong buôn đâu, giờ amí hỏi thế, không lẽ nào...
Tao hỏi thế thôi, mà mày cũng đến tuổi rồi mà, nhà mình không có bóng dáng đàn ông, ra vào cũng buồn. Mày rước chồng về rồi sinh đứa con cho tao có cháu bế, tao thèm nghe tiếng con nít cho nhà bớt hiu quạnh... Con Rem nó đi rồi, không biết giờ đang ở đâu. Tao cũng già rồi, không buồn nhớ nó nữa, nó không còn là con tao nữa rồi. Giờ mỗi mày là con gái tao, mày không nuôi tao thì tao ở một mình, nhưng dù sao thì tao cũng phải cưới chồng cho mày chứ.
- Vậy... có ai đánh tiếng rồi hả amí?
- Ừ, tao nghe anh em nhà thằng Y Bap có ướm hỏi rồi, nếu được thì tao bảo cậu mày sắm cái vòng đồng với con heo nái mang qua đó hỏi chuyện. Tao thấy thằng Bap cũng được, nó hiền lành, lại có bằng cấp, đi làm cũng được thời gian rồi, nó lại thích mày, thế thì cũng tốt. Mày thấy thế nào?
- Sao nhanh thế amí, con chưa muốn lấy chồng đâu. Con còn nhỏ mà...
- Nhỏ gì nữa, tao già rồi, hồi bằng tuổi mày đã sinh con Rem đấy, đời người chẳng mấy, đến khi tao đi gặp ama mày ở buôn atau còn có cái mà kể, chứ mày chưa lấy chồng thì tao chưa yên tâm được. Nhà mình không nhiều đất rẫy gì, tao cũng chỉ có mình mày, thôi thì rước chồng cho mày rồi tao chia luôn cho vợ chồng mày mảnh đồi bên kia, cứ thế mà làm, phần tao thì có vạt đồi cuối buôn là đủ tao tỉa lúa ăn dần...
- ...
Câu chuyện của hai mẹ con còn tiếp nữa, dù Ry chưa thực sự ưng, nhưng amí có vẻ đã quyết định rồi, Ry cũng không muốn làm amí buồn, amí buồn chị Rem là đủ rồi, Ry sẽ nghe theo amí.
Ngày cưới của Ry có đông anh em họ hàng đến chúc mừng. Ông aê Bap đứng ra làm chủ hôn, tận tay đeo nhẫn vào ngón tay cháu dâu, bên này thì ama Ben đại diện nhà gái trao nhẫn cho chú rể. Họ hàng nhà gái mang quà mừng là vòng đồng đeo vào cổ tay chú rể, bao nhiêu vòng đồng là bấy nhiêu anh em bên nhà gái. Chiếc chăn thổ cẩm rộng năm đường khung dệt do Ry tự tay dệt được đem ra làm của sính lễ biếu mẹ chồng. Năm ché rượu vít cần liên tục, con heo nái nuôi cả năm tuổi dành làm của lễ cho mẹ chồng được làm thịt ngay hôm đó, còn phần lễ cha chồng thì tính ra tiền mặt. Mọi người ăn uống vui vẻ mừng hạnh phúc đôi trẻ. Tiệc tan, mọi người ngà ngà say, hơi men rượu cần thơm thơm đưa theo gió.

***
Cuộc sống cứ bình lặng trôi đi, buôn Êa Kuôl cũng từng ngày thay đổi, hòa theo nhịp sống hiện hữu. Buôn Êa Kuôl bây giờ khá giả hơn trước, người dân có thêm tivi, máy cày, bắt kịp nét hiện đại. Ngôi nhà dài của amí Rem (bây giờ là aduôn Nyna) đón thêm thành viên mới, bé Nyna ra đời trong sự mừng vui của cả nhà, nhất là bà ngoại. Nụ cười móm mém của bà lại xuất hiện sau tháng ngày tưởng chừng đã mất đi mãi mãi. Ry (giờ là amí Nyna) giờ làm cán bộ phụ nữ, cùng chồng làm việc ở xã. Ngày thường hai vợ chồng đi làm ở xã, lâu lâu thì cùng vác cuốc ra thăm vườn. Hai vợ chồng hạnh phúc, điều đó cả buôn này ai cũng công nhận.

***
Amí đón nhận những niềm vui mới ở tuổi xế chiều trong ngôi nhà bi bô tiếng con nít. Một ngày trời đẹp, nắng tỏa vàng những con đường đất đỏ chạy khắp buôn, chị Rem trở về, trên chiếc ôtô bốn chỗ đời mới. Mọi người ùa ra xem người cô gái lạ về buôn, mái tóc vàng, cách ăn mặc sang trọng. Chị Rem giờ đã là người nổi tiếng, chị có mặt trong nhiều bộ phim truyền hình được chiếu trên tivi, cả buôn này ai cũng biết. Hôm nay chị về lại buôn mình, về gặp lại amí. Amí đón chị bằng nụ cười vui mừng và hạnh phúc, nụ cười rạng ngời giữa cái nắng ban trưa. Amí thôi không còn giận chị Rem nữa, chị vẫn là cô con gái của amí như ngày nào. Amí còn yêu chị lắm.
Người nổi tiếng về buôn, mà lại là người con trong buôn. Điều này chưa từng có ở buôn Êa Kuôl, nhưng nó không phải là điều quan trọng, chị Rem đã về đoàn tụ cùng gia đình, đó là điều hạnh phúc nhất.


Trại sáng tác, Gia Lai, Tháng 6. 2013

29 tháng 7, 2013

Tản mạn...!

Ai đã qua thời thanh xuân nông nổi
Rót chút nắng vàng gõ cửa ánh dương
Ai đã gieo bao giọt buồn sầu muộn
Ướt đẫm thềm nhà những giọt mưa tuôn

Sáng nay tỉnh giấc chợt buồn vô hạn
Mượn gió gửi hồn tản mạn trước không gian
Nghe trời đất chuyển mình trong tiếng nấc
Chợt giật mình sao nhanh quá thời gian....

10 tháng 7, 2013

DÃ QUỲ VẪN ĐỢI


Dã quỳ đã rực vàng khoe sắc bên những bờ rào cà phê. Màu vàng nhìn đến chói cả mắt. Lại một mùa nữa hoa dã quỳ nở rộ trên vùng đất bazan này. Thêm một năm qua đi. Mà bao nhiêu năm rồi nhỉ? Đã bao mùa trôi? Con trăng cứ khuyết lại tròn. Con suối cứ cạn rồi đầy. Đàn chim bay về làm tổ rồi lại bay đi. Hoa cà phê cứ nở rồi tàn. Lá trên cành cứ xanh rồi rụng. Đã bao năm rồi, cứ mỗi mùa hoa dã quỳ nở, nó lại ra đứng nơi gốc cây muồng đầu con đường đất ngóng chờ từ sáng sớm đến chập tối, đôi mắt hướng xa xăm về phía ấy, ngóng chờ trong vô vọng rồi lủi thủi ra về, lòng đượm buồn. Nỗi buồn ngự trị tràn đầy xen lẫn nỗi nhớ khuôn nguôi.

- Mày lại đứng đợi ở gốc cây đầu buôn đó hả?

Có vẻ như câu hỏi ấy đã lặp lại không biết bao nhiêu lần và lần nào cũng thế, nó cũng chỉ lặng im không nói câu gì.

- Tao bảo rồi, mày chờ đợi làm gì vô ích. Con Nali giờ đang an nhàn hưởng lạc nơi phố thị xa hoa, không còn nhớ về nơi đây nữa. Nó quên nơi này lâu rồi, nó quên mày lâu rồi.

- Không. Không phải như thế. Chị ấy vẫn nhớ. Chị ấy đã hứa là sẽ trở về. Chị ấy đã hứa và nhất định sẽ về, nhất định là như thế.

Nó nói mà đôi mắt ráo hoảnh vẻ đầy chắc chắn.

- Vậy mày cứ đợi đi. Rồi sẽ thấy chỉ vô vọng mà thôi.

Nó lầm lũi bước xuống sàn rồi lẳng lặng ra bờ suối.

Chị ơi, sao chị chưa về, sao chị đi lâu thế! Chị đã hứa chỉ đi một thời gian ngắn thôi mà! Đã hứa khi mùa dã quỳ nở thắp vàng cả những con đường, khi mùa cà phê cong trái chín mọng chị sẽ trở về với em cơ mà. Chị đã hứa rồi mà! Vậy mà em đã ngóng chờ bao mùa dã quỳ, đã bao mùa cà phê rồi. Sao chị vẫn chưa về!? Hay dì đã nói đúng. Phải chăng chị đã quên nơi đây, quên lời hứa năm nào, quên những tháng ngày khó nhọc khi xưa. Quên chúng ta đã sống như thế nào? Phải chăng chị đã quên em. Chị ơi!... 

Nó không khóc mà sao nước mắt cứ tuôn ra, tuôn ra và thi nhau chơi trò đuổi bắt trên đôi má nâu tròn tròn.

*            *

*
Ngày ấy, nhà nó nghèo lắm. Ama, amí nó cũng vì nghèo mà chết. Chết trong sự mê tín của họ hàng. Amí bị bệnh tim đã lâu, thế mà lũ làng cứ cúng bái thần linh. Hết cúng Yàng đến làm lễ, bệnh amí có đỡ đâu. Rồi một buổi chiều cuối tháng 12, khi những bông dã quỳ không còn khoe sắc vàng nữa mà nhuộm thành sắc đỏ rưng rưng, amí ra đi mà không nói lời từ biệt. Amí đi khi đang gùi nước leo cầu thang. Nó và chị ôm nhau cùng ama khóc. Tiếng khóc vang đến tận lùm cây nơi những bông dã quỳ đang cúi mặt, hình như chúng cũng đang khóc. Ama nối dây với dì, không phải dì không tốt với chị em nó. Nhưng dì không thể thay được amí trong lòng nó. Đối với chị cũng thế. Chẳng bao lâu sau, ama rời bỏ chị em nó. Amí không nỡ để ama lại nên rủ ama cùng về với ông bà. Chị trở nên ít nói, sống nội tâm, lủi thủi đi, lủi thủi về, không chơi đùa như chúng bạn cùng trang lứa. Nhà nghèo nhưng chị em nó vẫn được đi học. Chị học rất khá. Nó học không bằng chị, mà nó cũng không thích học. Đối với nó đi đổi công với các bạn, hái rau rừng, đi bẻ măng hay gùi hàng đi bán ở chợ vui hơn là đi học. Đi học nghĩ nhiều mệt đầu lắm.

Chị học hết cấp hai, định nghỉ học thì được nhận học bổng và vào học cấp ba trường nội trú tỉnh. Chị ít về nhà hơn, ít gặp nó hơn nhưng biết sao được, chị bận học mà. Ba năm trôi qua thật nhanh, giờ chị đã học hết cấp ba. Hôm về nó gần như không nhận ra chị. Chị trắng trẻo, người mảnh mai, mái tóc đen bóng mượt, ngón tay dài và thon, nói sõi tiếng kinh. Nó nhìn lại mình, làn da nâu, mái tóc dài quăn quăn vầng trán, đôi tay thô ráp, đen sạm vì nắng, dáng người tròn tròn vai đầy đặn, đôi chân to rắn chắc vì những gùi lúa gùi sắn luôn nặng vai trên đường dốc đường đồi. Hai chị em không còn giống nhau như những người trong buôn vẫn thường nói nữa. Chị ôm chầm lấy nó khóc vì vui sướng, thủ thỉ kể cho nó nghe nhiều chuyện của chị như những lần chị về thăm nhà chị vẫn hay kể.

- Giờ chị sẽ ở nhà, lên rẫy làm vườn cà và cưới chồng chứ? Nó hỏi.

Chị tròn mắt ngạc nhiên: “ Sao lại lấy chồng sớm vậy em?”

Đến nó ngạc nhiên: “ Chứ không lấy chồng chị sẽ làm gì? Dăm dei anh Y Ngheh nhà Aê H’Rôi đánh tiếng với dì rồi đấy.”

- Không. Chị chưa muốn lấy chồng đâu. Chị muốn đi học tiếp. Chị nghe bảo buôn mình sắp có mấy suất cử tuyển đi học bác sĩ hay quân y gì đó. Chị sẽ làm đơn em ạ.

Thế rồi chị đi thật. Chị làm đơn và được đi học. Bất chấp dì ngăn cản và dọa sẽ từ chị, chị vẫn đi. Ngày chị đi chỉ có nó ra tiễn chị đến tận con đường đất đỏ đầu buôn. Lúc đó đang là mùa mưa. Con đường lầy đến lún bàn chân như lời níu kéo chị đừng đi. Chị lên xe và hứa với nó nhất định khi hoa dã quỳ nở rộ, khi cà phê vào mùa hái, chị sẽ về thăm nó. Chị hứa sẽ viết thư cho nó đều đều. Hai tuần sau, nó nhận được thư thật. Nét chữ chị thân thương và mềm mại làm sao. Chị hỏi han về nó, về dì…kể về cuộc sống nơi thành phố. Chị còn kể về một anh chàng mới quen ở phố thị nữa. Nó hí hoáy viết và hồi âm cho chị theo dòng địa chỉ trong thư. Chao ôi, đôi bàn tay đã lâu lắm rồi không động vào cây bút, giờ cầm vào sao mà khó khăn đến thế, chữ còn xấu hơn cả gà bới. Nó cũng chẳng biết ghi gì nên chỉ kể vài điều về nó, về dì, về mấy đứa em đang đi học. Thế thôi, có gì nhiều mà kể chứ. 

Mùa dã quỳ đầu tiên đi qua, nó nhận được hai lá thư của chị. Chị bảo chị bận không về thăm nó được dù vẫn nhớ lời hứa năm xưa. Nó buồn nhưng cũng vui vui vì chị vẫn thương nhớ nó. Thêm mùa dã quỳ lại trôi, nó thưa nhận được thư của chị hơn. Phố thị tấp nập và việc học tập bận rộn quá, có lẽ vậy nên chị có ít thời gian viết thư. Rồi chị tịt hẳn không thấy viết thư về nữa. Anh Y Ngheh đã về nhà vợ ở buôn bên rồi. Dì đã có hai thứ tóc trên đầu. Hai đứa em cũng đã lớn và học lên cấp hai. Vậy mà chị vẫn chưa về. Có người đi thành phố về nói chị học xong đại học rồi được điều ra công tác ngoài Hà Nội, lại có người độc mồm bảo chị bỏ học đi theo anh chàng người kinh xấu hổ không dám quay trở về buôn. Mặc kệ mọi người nói gì, nó không nghe. Nó vẫn tin chị sẽ giữ lời hứa, chị sẽ quay về. Và mỗi mùa dã quỳ đến, nó lại ra đứng ở gốc cây muồng đợi đón chị trở về.

*                 *

*
Nó ngước lên bầu trời đêm. Trăng đêm nay mới lên hình lưỡi liềm nhọn hoắt. Sao đầy trời. Hình như có giọt lệ đang rơi. Sao long lanh như đôi mắt đang ướt. Chị ơi, chị hãy trở về, em vẫn đang đợi chị và mong chờ chị về. Dã quỳ đã nở rồi chị ơi…

Một buổi chiều trên con đường buôn tấp nập, những chiếc máy cày chạy túc tắc chở đầy mình những bao cà phê tròn nặng trĩu. Năm nay cà phê trúng vụ, bao nụ cười nở trên môi người nông dân. Có một cô gái đang bước từng bước chân sáo, đôi giày thể thao khỏe khoắn, chiếc ba lô con con và một chiếc vali nho nhỏ xách trên tay. Cô bước vào ngôi nhà dài đã cũ, sàn sắp mục. Ở đó có một người đàn bà trên đầu đã có hai màu tóc đang ngồi chẻ củi. Người đàn bà nheo nheo cặp mắt nhìn rất lâu để cố đoán xem ai đến nhà mình. Cô gái nhoẻn cười khẽ gọi: “ Dì ơi…”. Người đàn bà chết sững: “ …Nali…đúng Nali rồi…ôi…con tôi…”. Cô gái bước lên sàn, đặt vali xuống và ôm chầm lấy người đàn bà, một khoảnh khắc im lặng trước khi những cảm xúc vỡ òa… Đôi vợ chồng trẻ đi hái cà phê về, chiếc xe cày tiến vào cổng. Cô gái quay ra. Mắt người vợ trẻ bỗng long lanh nước, không nói được câu gì. Rồi cô rời chiếc xe chạy lại chỗ cô gái kia khóc òa như một đứa trẻ. 

- Em biết mà, em nói rồi mà. Chắc chắn chị sẽ về với em mà…em vẫn tin thế mà…

Người chồng ngơ ngác rồi như hiểu ra điều gì. Anh xuống xe và đi lại chỗ người vợ, cùng cô chia sẽ niềm hạnh phúc tràn ngập. 

Bên bờ rào, dã quỳ vẫn nở. Hoàng hôn buông màu nắng đượm. Có phải vì vậy mà dã quỳ vàng thêm, một màu vàng rực rỡ.

Văn hóa nghệ thuật các dân tộc Tây Nguyên: Những băn khoăn, trăn trở

Có thể khẳng định chắc chắn một điều rằng chỉ mới vài năm gần đây thôi, nhưng cả số lượng và chất lượng của văn hóa nghệ thuật (VHNT) các dân tộc thiểu số Tây Nguyên đã có sự đổi thay đáng mừng.
Các văn nghệ sĩ người dân tộc thiểu số tại Đại hội Hội VHNT Dak Lak nhiệm kỳ 2010-2015
Lĩnh vực nổi trội nhất phải được nhắc đến đầu tiên – “bề nổi” của VHNT Tây Nguyên, vẫn là nghệ thuật, lĩnh vực mà chúng ta biết thanh niên các dân tộc tại chỗ của Tây Nguyên, vốn có năng khiếu rất đặc biệt. Trước tiên là số lượng. Gần cả trăm học sinh người các dân tộc Tây Nguyên, ở khắp cả năm tỉnh trong khu vực, được đào tạo có bài bản, tốt nghiệp Trường VHNT Quân đội, các Nhạc viện, các trường VHNT địa phương, đã làm nên không chỉ những gương mặt mới, mà còn cả sinh khí mới cho nghệ thuật trình diễn lẫn giảng dạy âm nhạc ở Tây Nguyên.

Tiết mục của Đoàn Dak Nông tại Liên hoan Ca múa nhạc toàn quốc đợt II năm 2012
Về sáng tác, không còn tay ngang nữa, tất cả đã tốt nghiệp từ bậc cao đẳng trở lên. Sau sự mất mát rất lớn trong việc “ra đi về cõi mang lung” của các NSƯT Đinh Long Ta, nhạc sĩ Y Sơn Niê, họa sĩ Su Man… cộng với tháng năm chất chồng lên tuổi tác và sức sáng tạo của đội ngũ thế hệ tác giả thứ tư, như Y Brơm, KPă Y Lăng, Đinh Xuân La, Linh Nga Niê Kdam…thì đến nay đã có thể yên tâm ở đội ngũ kế cận. Không chỉ là ở thế hệ thứ năm như A Đuh, Y Phôn Ksor, K’Ra Zan Đích, K’Ra Zan Plin, Y San Aleo… mà về âm nhạc, chúng ta đã có thêm Thảo Nam Giang, Phi Ưng (Bana) và cả Y Ghim Kbuôr, Y Vol (Êđê), cho dẫu có hoặc chưa có dịp chứng tỏ mình trong tác phẩm, vẫn là những nhạc sĩ trẻ phối khí tốt. Sáng tác múa có Đinh Rô Bang (Ka Dong), Trần Y Kiều Diễm (Êđê) bước đầu đã có tác phẩm, tham gia các chương trình nghệ thuật lớn. Đặc biệt trong lĩnh vực ca nhạc, sẵn sàng tiếp bước Y Moan, Siu Black, Y Nghuch…, nhiều giọng hát nổi lên, làm phong phú thêm thế hệ trẻ ca hát chuyên nghiệp ở Tây Nguyên, như anh em Y Vol và Y Ga Ria, Y Zoen, H’Zi Na, Y Moan Hmok, Y Bhen (Êđê) ở Dak Lak; Đinh Xuân Đề, Y Giang Tuyn, Huang Thuyên (Banar) của Kon Tum và Gia Lai, Y Mơ Ling (M’nông) của Dak Nông, Chil Boner Trinh, Rô Zamik (K’Ho)… xuất hiện trong các cuộc liên hoan ca nhạc lớn, đều tạo được ấn tượng đối với khán giả yêu nhạc cả nước. Dẫu không chính thức tham gia vào làng nghệ thuật giải trí nhưng một Ka Long Ha Ghim (K’Ho) duy nhất cho tới thời điểm hiện nay, tốt nghiệp thạc sĩ Thanh nhạc tại Nhạc viện TP. Hồ Chí Minh, “mang chuông” đi hát tận nước Mỹ xa xôi, cũng được cộng đồng người Việt khen ngợi. Giảng dạy nghệ thuật, có thạc sĩ lý luận Y Mai và nghệ sĩ múa Măng Linh Nga (dân tộc Bana – ở Trường VHNT Gia Lai).

Bên cạnh đó, nhiều chương trình biểu diễn lớn như các Hội diễn nghệ thuật chuyên nghiệp năm, Festival Cồng chiêng quốc tế ở Gia Lai 2009, Tuần Văn hóa Du lịch Dak Lak, lễ kỷ niệm 35 năm Ngày giải phóng Buôn Ma Thuột 2010, Tuần văn hóa du lịch Buôn Ma Thuột 2011… có sự tham gia dàn dựng và biểu diễn của các nghệ sĩ người dân tộc thiểu số, nhiều tác phẩm khí nhạc, ca khúc, múa đã được dư luận đánh giá cao. Đặc biệt, bế mạc Tuần lễ Văn hóa Du lịch Dak Lak năm 2009, một lần nữa các tác giả âm nhạc Tây Nguyên lại được tôn vinh trong đêm biểu diễn “Gala các giọng hát trẻ” (điều tưởng như khó có thể thực hiện được, sau chương trình Kỷ niệm 100 năm thành lập và phát triển thành phố Buôn Ma Thuột tháng 11-2004). Những giọng hát nồng nàn như nắng, như gió, trong vắt như nước suối nguồn, đến từ khắp các tỉnh Tây Nguyên, đã một lần nữa chứng tỏ được thế mạnh của mình.

Lĩnh vực thứ hai đáng mừng đó là đội ngũ các nhà sưu tầm, nghiên cứu văn hóa dân gian có tri thức bậc cao: hai tiến sĩ Thu Nhung Mlô Duôn Du và Tuyết Nhung Buôn Krông (Êđê, Bih), 12 thạc sĩ văn hóa học người các dân tộc Bana, Êđê, J’rai, M’nông, Xê Đăng, Cơ Tu… do Quỹ Ford tài trợ để Viện Nghiên cứu Văn hóa đào tạo, đã và đang vững vàng trên cương vị công tác của mình khắp miền Trung và Tây Nguyên; dù ít, dù nhiều, vẫn có những đóng góp đáng quý vào công tác nghiên cứu văn hóa dân gian bản địa. Những công trình của các anh chị như: Âm nhạc Êđê (Lý Vân Linh Niê Kdam – được trao Giải thưởng Cư Yang Sin lần thứ I của tỉnh Dak Lak); Tang lễ của nguời M’nông Rlâm (Y Tuyn Bing), VHDG Xê Đăng (Nguyễn Thị Trung, Phan Văn Hoàng)… đã được xuất bản thành sách, bổ sung vào kho tư liệu của văn hóa Tây Nguyên những văn bản quý. Yêu mến và mong muốn góp phần bảo tồn văn hóa dân tộc, chuyên ngành này có thêm những nhà sưu tầm nhiệt tình, đang ngày đêm “lăn lóc” với thực địa như nhạc sĩ K’Ra Zan Plin với Bộ Luật tục K’Ho hơn 2.000 điều, được giới thiệu lần đầu tiên năm 2008; nhạc sĩ K’Ra Zan Đích với những bản ký âm giai điệu ching và dân ca K’Ho, Lach… Những “ hạt ngọc” của văn hóa truyền thống được nâng lên từ chính những bàn tay nâu sạm màu nắng gió và đất đỏ bazan, khoe vẻ đẹp tinh khiết với bạn bè.

Nếu 10 năm trước đây, chúng ta còn băn khoăn khi đi kiếm tìm những cây bút trẻ người dân tộc thiểu số bản địa, thì hôm nay, vui mừng thông báo với bè bạn lĩnh vực thứ ba, từ công sức và sự chăm lo của các Hội VHNT địa phương, đặc biệt là của Hội VHNT các tỉnh Dak Lak, Kon Tum, sẽ có một thế hệ 9X viết văn người dân tộc thiểu số hình thành từ các lớp, các trại sáng tác văn học trẻ, tiếp bàn chân trên con đường xây dựng nền văn học Tây Nguyên của các “liền chị ” 8X như Niê Thanh Mai, H’Triem Knul, Hoàng Thanh Hương… Đầu tiên là hai gương mặt Êđê (duy nhất của khu vực miền Trung và Tây Nguyên) tốt nghiệp lớp Đại học viết văn từ sự phối hợp của Hội Nhà văn Việt Nam và Trường ĐH VHNT Quân đội là H’Phi La Niê (văn xuôi) và H’Wê Ra Êban (thơ). Tiếp đến là những truyện ngắn hồn nhiên mà bước đầu đã có tính cách riêng của Hồng Nhật Ya Lan (M’nông)… rồi những Đinh Su Giang, Y Việt Sa (Xê Đăng – Hội viên Hội VHNT Kon Tum), H’Xíu H’Mok, H’Siêu Êban (Êđê – Hội viên Hội VHNT Dak Lak)… và sẽ còn nữa, từ những ươm gieo trên bàn tay nâng niu chăm bẵm của các lớp văn nghệ sĩ đi trước.

Rất ít ỏi nhưng vẫn có những mảng màu khác đậm chất cao nguyên không kém, đó là cây cọ trẻ của “làng” nghệ thuật tạo hình Trần Y Anh Tuấn (Êđê), Trần Hồng Lâm (Khơmer); hay trong “xóm” các ống kính hiếm hoi của nghệ thuật nhiếp ảnh: nữ nghệ sĩ Siu Kết (J’rai), Hội viên Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam, có ảnh được treo tại triển lãm ảnh quốc tế; đó còn là “tay máy” quay phim trẻ trung, đang rất có uy tín với đồng nghiệp ở các Đài Truyền hình phía Nam: Y Jen A Yun (Êđê)… Dẫu cho mải mê với việc kiếm sống ở Tây Nguyên hay nơi nào khác, nhưng tác phẩm của các nghệ sĩ này đã đem lại cho chúng ta niềm hy vọng về một thế hệ trẻ đang định hình và sẵn sàng hội nhập nhưng vẫn không đánh mất chính mình, trong các lĩnh vực hội họa, truyền hình và nhiếp ảnh được coi là rất khó bồi dưỡng và đào tạo…

Từ những gặt hái ban đầu nêu trên, xin được nêu ra đây một số điều băn khoăn trăn trở:

Đối với các Hội VHNT trên địa bàn Tây Nguyên: sao chúng ta không “chung lưng đấu cật” trong việc bồi dưỡng đội ngũ sáng tác trẻ mọi lĩnh vực, nhất là viết văn nhỉ? Hội địa phương nào cũng có kinh phí các trại sáng tác, nếu luân phiên mỗi năm một tỉnh, mở trại cho lực lượng tác giả trẻ, chọn lựa những cây bút thật sự có triển vọng (tất nhiên tỉnh nào cũng phải đóng góp kinh phí cho đơn vị đăng cai), sẽ có hiệu quả hơn không? Như thế các bạn trẻ sẽ có dịp tiếp xúc với nhiều đàn anh, đàn chị, nhiều phong cách sáng tạo khác nhau. Theo thiển ý của người viết, trách nhiệm bồi dưỡng nhân tài trẻ tại chỗ, trước hết chính là của các Hội địa phương và phải cải tiến cả lối tư duy lẫn phương thức thực thi. Thậm chí không chỉ tác giả trẻ, mà có thể trao đổi nhiều thế hệ tác giả với nhau, cũng nên làm chứ? Đối với Hội VHNT các dân tộc thiểu số Việt Nam: Nên phát huy hình thức lớp sáng tác khu vực cho các tác giả trẻ, như đã làm hè năm 2009 với văn học ở Tây Nguyên (do Dak Lak đăng cai). Không được thường niên thì hai năm một lần, trong cả văn học, hội họa lẫn nhiếp ảnh (chỉ trừ âm nhạc, để ươm gieo và chăm sóc, nên mời đi trại sáng tác thường niên của Hội cả những tác giả người dân tộc thiểu số chưa phải là hội viên, như trước đây đã từng có). Trước mắt, nên dành một lớp cho hội họa hoặc nhiếp ảnh trẻ. Tuy nhiên, Hội rất cần kêu gọi sự phối hợp với các Hội chuyên ngành, như các Hội Nhà văn, Hội Nhạc sĩ, Hội Mỹ thuật, Nhiếp ảnh… để chia sẻ kinh phí. Và nhất là dự toán sao đó, để sau khi bế mạc trại có tập sách, hoặc triển lãm ( tranh, ảnh…) nhỏ.

Mọi sự so sánh đều khập khiễng nhưng nếu nhìn lại con đường phát triển VHNT các tỉnh miền núi phía Bắc từ 1955 đến nay, thì thời gian từ 1975 tới thời điểm này, đối với các dân tộc thiểu số ở các tỉnh Tây Nguyên, vẫn còn là quá ngắn ngủi. Những thế hệ đi trước đã “làm nên lịch sử” hầu hết ở lĩnh vực nghệ thuật diễn xướng đến nay cũng đã theo thời gian mà chững lại. Thế hệ nối tiếp vừa điểm sơ qua đội ngũ, được thế đã quý lắm rồi. Sao chúng ta không tiếp tục lạc quan, bồi dưỡng và mong đợi? Tin rằng, không chỉ con người, mà còn chắc chắn sẽ có tác phẩm.

Hội VHNT các dân tộc thiểu số, với trách nhiệm nghề nghiệp, quản lý một sân chơi có thể coi là dành riêng cho VHNT dân tộc và miền núi, nên chúng ta có quyền đòi hỏi ở Trung ương Hội một phương pháp mới có sáng tạo trong lĩnh vực bồi dưỡng đội ngũ tác giả người dân tộc thiểu số không chỉ riêng ở Tây Nguyên mà còn khắp cả nước. Rất cần đến một sức bật mạnh mẽ hơn, thấu đáo và có tình hơn. Đã đến lúc nên chăng, đừng dàn trải quá vào các trại sáng tác chung, mà đến đó chỉ như một sự nghỉ ngơi cho tác giả miền núi nữa (ngoại trừ những đợt đi thực tế các miền), mà tập trung vào bồi dưỡng đội ngũ tác giả trẻ?

Tây Nguyên, với nắng gió thừa thãi, với những huyền thoại như thực như mơ và không gian văn hóa cồng chiêng, luôn là niềm hứng khởi cho cảm xúc sáng tạo của văn nghệ sĩ. Nếu biết kiên nhẫn chăm chút vun trồng, chúng ta sẽ có đội ngũ tác giả trẻ người các dân tộc bản địa, đông vui, như xứng đáng được thế!
Theo baodaklak.vn

9 tháng 7, 2013

Làng chiếu Long Định và ứng dụng công nghệ trong sản xuất

Làng chiếu Long Đĩnh(xã Long Định, huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang) là làng nghề truyền thống có xuất xứ từ Bắc, tồn tại đến nay đã gần 60 năm. Cùng với cơ chế thị trường, làng nghề này đang có bước chuyển hướng, đưa công nghệ vào quá trình sản xuất.

Làng nghề thủ công truyền thống…

Xuất hiện từ những năm 1954, làng chiếu Long Định đã trải qua khoảng thời gian dài với những gia đình có đến 2, 3 thế hệ cùng sản xuất chiếu cói, cái nghề đã theo họ khi rời quê hương Ninh Bình di cư vào Nam. Bà Đoàn Thị Hiền, một người dân trong làng kề lại: “ngày trước, nhất là dịp nghỉ hè, gần như nhà nào ông bà, cha mẹ anh chị em cũng quây quần bên nhau làm chiếu. Người giũ lác, người dệt, người in hoa,.. tiếng khung cửi hòa lẫn tiếng nói, tiếng cười rộn vang khắp làng”.

Đã trở thành nghề truyền thống nên những người dân ở đây khá gắn bó với công việc của mình. Bà Trần Thị Lệ cho biết bà đã làm nghề này hơn 50 năm, đến nay đời thứ ba trong gia đình vẫn tiếp tục dệt chiếu. Ông Bùi Trần Tuấn Anh( sinh năm 1984) kể: “tôi vào nghề từ năm 8 tuổi, làm đến nay và chắc chắn trong tương lai vẫn gắn bó với chiếu, cần câu cơm nuôi sống cả nhà mà”.

Khi mới du nhập vào Nam, chiếu chủ yếu được làm thủ công, dệt bằng tay. Bà Nguyễn Thị Tươi, người đã 30 năm làm nghề đang ngồi bên khung dệt chia sẻ: “khung dệt này còn hơn tuổi tôi, làm theo mẫu ngoài Bắc, càng lâu càng dẻo, nếu có thay dổi cũng khó đóng lại được cái khung chuẩn như vậy”.

Không chỉ công đoạn dệt, để có được một tấm chiếu hoan thiện có hoa văn trang trí bán ra thị trường cần trải qua các giai đoạn in hoa, hấp chiếu cho thấm mực rồi đem phơi khô. Công đoạn này được thực hiện thủ công kĩ lưỡng, đòi hỏi sự tỉ mỉ khéo léo và chịu khó cuả người làm. Bà Vũ Thị Oanh, người trong làng cho biết: “nghề in bông không đơn giản. Tay lúc nào cũng dính phẩm, da mỏng và rát. Trưa nắng người khác được nghỉ ngơi, mình lại phải ngồi ngoài nắng đẻ phơi chiếu”. 

…đang được cải tiến công nghệ

Cùng với những ứng dụng mới về công nghệ, sản xuất chiếu cũng đang có sự chuyển đổi từ dệt tay sang dệt máy, giảm bớt sự vất vả của người làm. “ Bây giờ dân ở đây làm chiếu thủ công giảm hơn trước do thu nhập không được bao nhiêu. Mấy năm trở lại đây, gia đình nào có điều kiện thì mua máy dệt thay khung cửi nhằm nâng cao năng xuất”. Ông Nguyễn Văn Thi- Chi hồi trưởng Hội nông dân xã Long Định cho biết.

Được biết, cả làng có khoảng 50 máy dệt, có gia đình có đến 2-3 chiếc. bà Đỗ Thị Hường tâm sự : “bây giờ có máy cũng đỡ phần nào. Nếu dệt thủ công cần 2 người thì nay dệt máy chỉ cần một người là đủ”. Hiện bà Hường sử dụng hai máy tại nhà, thu nhập cũng khá hơn, trung bình 6-7 triệu một tháng.

Ứng dụng công nghệ còn thể hiện ở sự đa dạng hóa sản phẩm theo nhu cầu thị trường. Ông Vũ Minh Trung (chủ một cơ sở làm chiếu) đã tận dụng mối quan hệ bạn hàng để tìm hiểu, nắm bắt nhu cầu và thay đổi cho phù hợp với người mua, sản xuất ra nhiều sản phẩm mới như chiếu manh mỏng cho em bé ngủ võng, chiếu khổ 8 tấc đến 1,8m, chiếu gấp,… để tăng khách hàng.

Tuy nhiên, theo ông Thi, không phải hộ dân nào cũng đủ điều kiện mua máy dệt hay mở rộng sản xuất. Nhiều gia đình không có vốn đầu tư, thu nhập không đủ nên họ bỏ nghề, chuyển hướng đi. Từ 150 hộ nay giảm xuống còn 80 hộ làm chiếu. 

Một trong số những người chuyển hướng đi là ông Phạm Minh học- chủ cơ sở Minh Học. Ông cho biết, từ nằm 1998, ông đem cách làm thảm lục bình về làng và đưa sản phẩm này trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của cơ sở. Hàng chủ yếu xuất khẩu sang thị trường Châu Âu. Theo nhận xét của người dân, cơ sở của ông đã góp phần tạo việc làm cho nhiều lao động, mức thu nhập ổn định, thu hút nhiều lao động trẻ trong làng.

Dù làm thủ công hay chuyển sang hướng mới, ứng dụng công nghệ trong sản xuất, cho đến nay làng chiếu Long Định vẫn đang tồn tại, người trong làng vẫn tiếp tục dệt nên những tấm chiếu dày, bền chắc giống những tấm chiếu truyền thống ngoài Bắc- quê hương xuất xứ của nghề này.

H Xíu H Mok

Tp HCM T5.2011

( Bài viết nhân chuyến đi thực tế ở Tiền Giang)

BẦU TRỜI TRONG ĐÔI MẮT

Một buổi sáng chủ nhật đẹp trời, bầu trời cao và trong như ngọc bích. Những đám mây trắng nhè nhẹ trôi trên nền trời những tia nắng ấm áp vừa ngủ dậy. Khỏe khoắn. Tôi đeo giá vẽ, lọ màu và bảng pha bách bộ vào công viên để tìm chút cảm hứng. Lâu rồi chưa động vào giá vẽ. Những giờ học trên lớp làm tôi phát ngán.

Công viên hôm nay thật nhộn nhịp, đám trẻ chạy tung tăng trên nền cỏ, các cụ già tập dưỡng sinh. Cặp vợ chồng trẻ dắt con đi dạo. Ngày chủ nhật thư thái.

- Ối chú dẵm lên bức vẽ của cháu rồi…!

Tôi giật mình nhìn xuống. Nền cát mịn ngoằn ngoèo những nét vẽ của một bức tranh khá ngộ nghĩnh đã bị vết chân của tôi đè lên. Cô bé ngước nhìn tôi, đôi mắt long lanh thoáng buồn. Rồi em lại cúi xuống hí hoáy.

- Em đang vẽ à? Cho anh xin lỗi, anh mải ngắm phía trước nên không để ý. Em vẽ gì đó?

Cô bé hé cười: “Không sao anh ạ, em chỉ vẽ chơi thôi. Anh có thấy dãy nhà đằng kia không? Em đang tập vẽ chúng đấy”.

- Ồ ra vậy. Em cũng thích vẽ nhỉ!

Em mỉm cười không nhìn tôi: “Chắc anh mới chuyển đến hôm qua. Anh là họa sĩ à?”

- Sao em biết? À, vì những hộp màu và bảng vẽ này phải không? Ừ, anh mới chuyển đến chiều qua. Anh là sinh viên trường Mĩ thuật. Anh ở khu này để tiện đi học. Anh là Quân. Còn em?

-Em là Nhiên. Nhà em cũng gần đây. Anh có thấy ngôi nhà tường xanh có mái vòm đầy hoa chuông vàng đằng kia không? Nhà em đó.

Tôi nhìn theo hướng tay em chỉ, đúng là có ngôi nhà màu xanh có giàn hoa chuông nở rộ. Nắng làm hoa thêm vàng. Những mảng màu trông thật sinh động.

- Ừ anh thấy rồi...

- Nhiên, về thôi em. Sao còn ngồi đó vậy!

Một giọng nói vang lên làm gián đoạn cuộc nói chuyện giữa hai chúng tôi.

- A, chị Như! Chị ơi lại đây. Đây là anh Quân, sinh viên trường Mĩ thuật.

Nhiên hồ hởi gọi Như lại rồi quay sang tôi.

- Anh Quân đây là chị Như, chị gái em.

- Chào bạn. Rất vui được làm quen với bạn, mình mới đến nên còn lạ nhiều thứ. Hi vọng bạn và Nhiên sẽ là những người bạn của mình.

Như nhìn tôi có vẻ thăm dò: Vâng chào anh...Thôi ta về nào Nhiên...

Nói rồi Như dắt tay Nhiên đi một mạch. Nhiên cười với tôi rồi luống cuống đi theo chị. "Xem ra những người hàng xóm ở đây có vẻ mến khách". Tôi nghĩ thầm và cười một mình.

Sau vài ngày nghỉ ngơi dưỡng sức, tôi lấy lại được chút hứng thú động vào cây cọ. Không rõ là do cảnh vật nơi này thơ mộng hữu tình hay do sự cận kề của kì thi sắp tới? Đó là kì thi khá quan trọng do trường liên kết với Hội Mĩ thuật tổ chức. Những tác phẩm đạt giải trong đợt này sẽ được đi dự triển lãm quốc tế ở New Yook, kèm theo đó, tác giả sẽ được một suất du học tại Pháp. Nói chung đạt giải thì tôi không ham nhưng suất học bổng kia mới là đích mà tôi muốn đạt được. Đối với một anh sinh viên như tôi thì chuyện đi du học quả là một việc hơi phải nghĩ ngợi.

Tôi bách bộ qua công viên, thả hồn suy tư cùng những gam màu. Xa xa là bầu trời xanh, đám mây trắng bàng bạc bồng bềnh trôi. Nắng. Que nắng thả mình song song chạy dài, nhảy nhót trong không trung. Thoáng nhìn ngôi nhà có hoa chuông vàng, tôi thấy Nhiên đang cặm cụi. Có lẽ cô bé đang tập vẽ, trông có vẻ tập trung cao độ lắm. Tôi định gọi nhưng sợ làm em mất tập trung lại thôi. Chọn cho mình một góc sân, tôi dựng giá vẽ và bắt đầu vạch những đường chì.

- Anh đang vẽ à. Ôi anh vẽ đẹp nhỉ...

Giọng nói quen thuộc khiến tôi giật mình. Nhiên nhìn tôi cười rồi nhìn nhanh vào bức vẽ. Đôi mắt long lanh với cái nhìn thật sâu, nụ cười rạng rỡ với chiếc răng khểnh rất duyên. Hình ảnh ấy trong ánh nắng ban mai và cả bầu trời xanh màu ngọc bích, đám mây trắng bồng bềnh nhẹ trôi. Cả màu xanh tươi mát của gốc cây cổ thụ phía sau lưng em. Dường như tất cả được thu vào khung hình của một bức tranh tuyệt mĩ không ngôn từ nào diễn tả hết được. Tôi như bị hút hồn vào bố cục bức tranh trước mắt rồi bỗng sực tỉnh trước sự bối rối của em.

- À, ừ, anh đang hí hoáy vậy thôi... Lâu rồi chưa vẽ được gì... Nãy anh thấy em ngồi vẽ. Thế nào... bức vẽ của em hoàn thành chưa?

Em ngập ngừng: ‘‘Cái đó... em vẽ chưa xong... Em có cái này tặng anh’’.

Vừa nói Nhiên vừa đưa tôi một hộp cọ và màu vẽ.

- Em hi vọng anh sẽ dùng nó. Tuy không mới lắm nhưng anh dừng chê nhé.

Tôi xúc động nhận món quà từ tay em: “...ừ, anh cảm ơn...“

- Nhiên ơi, xong chưa em? Ta về thôi.

Như bước lại chỗ chúng tôi, dắt Nhiên đi. Tôi đứng ngẩn người nhìn theo hai dáng nhỏ đổ dài trên mặt đất xa dần.

Mấy hôm sau hình ảnh hôm nào vẫn mường tượng hiện ra trước mắt, tôi quyết định vẽ lại phút giây ấy. Nói là làm, tôi say sưa vẽ. Khổ nỗi cái hồn bức tranh thật khó mà lột tả hết được. Tôi đã vẽ đi vẽ lại mấy lần, bỏ mấy bản nháp mà hồn tranh vẫn chưa bộc lộ được. Hơi nản, tôi buông cọ, đi dạo vẩn vơ. Buổi sáng (có vẻ tôi có duyên với buổi sáng), tôi ngồi bật giậy và ngồi vào ghế vẽ, bắt đầu công việc. Không rõ nguồn động lực từ đâu mà tôi ngồi vẽ một mạch đến trưa, quên cả ăn sáng. Ngắm lại tác phẩm của mình để đặt cho nó một cái tên. Một cô bé mơ mộng ngước nhìn trời. Bầu trời trên cao trải rộng một mau xanh... “Bầu trời trong đôi mắt“? Cái tên chợt lóe sáng trong đầu tôi. Nghe có vẻ xuôi, tôi đem bản vẽ ấy gửi đi dự thi, trong lòng âm thầm nuôi một niềm hi vọng.

Hai tháng sau, một buổi sáng đẹp trời, tôi tỉnh giấc bởi tiếng chuông điện thoại từ Hội Mĩ Thuật. Tác phẩm “Bầu trời trong đôi mắt” của tôi vẽ Nhiên hôm nào đã giành được giải đặc biệt trong buổi triển lãm và suất học bổng kia chính thức dành cho tôi. Khó mà diễn tả được nên lời tâm trạng của tôi lúc ấy. Vậy là sau bao ngày hồi hộp mong đợi cuối cùng đã thành công. Tôi nghĩ đến Nhiên, cần phải chia sẻ với em về thành công này. Dù sao thì nhờ em mà tôi có được cảm hứng kia. Cả hộp cọ em tặng tôi nữa, tôi đã dùng nó để hoàn thiện tác phẩm của mình. Tôi chạy ra công viên tìm em nhưng không thấy. Tôi sực nhớ ra đã lâu lắm rồi tôi không gặp em. Tôi lần tìm đến ngôi nhà có giàn hoa chuông hôm nào. Căn nhà vắng tanh, cửa khóa kín phủ đầy bụi. Ông hàng xóm đang đứng tưới hoa hỏi tôi tìm ai. Tôi trả lời tìm Nhiên rồi sững sờ khi nhận được câu trả lời: “Cháu tìm bé Nhiên à? Gia đình nó dưa con bé ra nước ngoài chữa mắt rồi. Nghe nói sang Pháp hay sao ấy...”.

- Sao cơ, chữa mắt?... Mắt bé Nhiên bị sao hả bác?

- Ủa cậu không biết à, con bé đã bị tai nạn ô tô năm năm trước khi nó đi học về. Cũng may không bị thương tích gì nhưng từ đó con bé sống trong bóng tối, mắt nó không nhìn thấy gì được nữa. Tội nghiệp con bé, nó thích vẽ lắm đó. Nó còn được cha mẹ tặng cho một hộp cọ to để tập vẽ. Nhưng vô dụng với đôi mắt không thể nhìn thấy gì. Nó chỉ hình dung thế giới xung quanh bằng trí tưởng tượng mà thôi. Giờ nghe bảo bên Pháp gì đó có công nghệ mới có thể chữa được, cha mẹ đưa nó đi rồi. Mong là con bé sớm bình phục... À mà cậu là thế nào với nhà nó vậy?

- Dạ cháu là... bạn cô bé. Cháu cảm ơn bác...

Tôi lững thững bước đi thả hồn vào cái nhìn vô định, lòng đầy tâm trạng rồi đến công viên hồi nào không hay. Tôi ngồi lại chiếc ghế đá hôm nào, hình ảnh cô bé bỗng hiện ra trước mặt. Ở nơi đây tôi gặp em lần đầu, cũng nơi đây em tặng tôi hộp cọ, khen động viên bức tranh vụng về tôi vẽ dở. Cũng chính em là nguồn cảm hứng để tôi đi đến thành công. Bầu trời trong đôi mắt là điều đẹp nhất mà em mang đến cho tôi. Vậy mà tôi không hề biết rằng tất cả những điều ấy em chỉ cảm nhận được bằng hình dung mường tượng. Không biết rồi đây trên đất Pháp xa xôi tôi có gặp được em, cô bé thiên thần, mang cả bầu trời trong đôi mắt ...

6 tháng 7, 2013

XIN HÃY NGỦ YÊN

Chiến tranh đã đi qua trên đất nuớc Việt Nam thân yêu đuợc hơn ba mươi lăm năm, tưởng chừng những vết thuơng đã lành miệng, nỗi đau đang lùi dần vào quá khứ để thay bằng một tương lai mới tốt đẹp hơn. Thế nhưng đâu đó trong những mảnh đời, trên những vùng miền của đất nước, trong lòng những con nguời đã từng một lần trải qua, những thời khắc đau thương, những tháng ngày bom đạn triền miên, nỗi đau chia cắt bởi chiến tranh, sự ám ảnh cả về thể xác lẫn tinh thần đôi lúc vẫn ùa về dâng lên đau nhói. Ngay đối với chúng tôi, thế hệ trẻ sinh ra trong hòa bình, tận hưởng hạnh phúc và tự do, cũng không sao kìm lòng, kìm lại những giọt nước mắt và sự phẫn nộ khi được xem những hình ảnh, tư liệu tái hiện thời kì bom rơi đạn nổ chia cắt đất nước khi đến tham quan Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh. (Võ Văn Tần, Q.3, tp Hồ Chí Minh). 

Có xa lạ không hình ảnh về nỗi đau của người mẹ mất đi đứa con thơ, người vợ chứng kiến cảnhchồng ngã xuống ngay trứơc mắt, đứa con gái nhìn thấy xác cha bị phanh xẻ rồi lôi đi?... vậy mà trên vùng đất này- vùng đất ghi dấu những tràng vàng chói lọi về một thời hào hùng, dấu tích tội ác vẫn còn in hằn khó nhạt nhòa như minh chứng hùng hồn vạch trần bộ mặt tàn ác của kẻ xâm lược. 

Nơi quê nghèo đang yên vui bỗng đâu giặc tràn về như cơn bão. Không cần biết họ là ai, họ làm gì, không cần quan tâm họ có phải là đối tượng cần phải truy bắt; những tên giặc với súng đạn trong tay tự cho mình cái quyền sinh sát, cướp đi tính mạng của những con người vô tội không có khả năng tự vệ- phụ nữ và trẻ em- đang đứng trước nòng súng. Chúng sẵn sàng “giết nhầm hơn bỏ sót” bất cứ tên “cộng sản” nào đang lăm le lật đổ sự thống trị tàn bạo mà chúng tự ban cho mình trên mảnh đất này. Dân thường đã vậy, những chiến sĩ quả cảm bị bắt khi đang làm nhiệm vụ càng phải chịu những ngón đòn hiểm hóc hơn- ngón đòn mà ngay cả trong cơn ác mộng kinh hoàng nhất người ta cũng không chắc dám nghĩ tới. các chiến sĩ của ta bị hành hạ tra tấn dã man bất kể ngày đêm nhằm moi móc thông tin, lục lọi để đoán ý đồ tấn công của ta. Đã có bao đồng bào ta phải chịu hi sinh mất mát, bao anh hùng còn nằm lại ngoài kia còn chưa yên nghỉ tại nơi họ đã sinh ra, bao gia đình tan tác tha hương phải li tán chưa tìm lại được người thân thích. Đã có bao rừng cây trơ trụi, đất đai cằn cỗi lá vì chất hóa học hủy diệt hàng loạt, bao rừng ngập mặn chỉ còn là vùng đất chết, những hố bom cày xới nham nhở từng mảng đất? 

Chợt nhớ đến câu thơ: 

…Có những phút giây làm nên lịch sử 

Có những cái chết hóa thầnh bất tử 

Có những lời hơn mọi lời ca 

Có những con người như chân lí sinh ra… 

Có phải vì vậy mà mảnh đất này đã sinh ra những người anh hùng, từ cụ già đến em nhỏ, từ thanh niên trai tráng đến các cô các chị, ai cũng tình nguyện đứng lên bảo vệ đất nước? Em bé ngây thơ cất tiếng khóc căm hờn đòi nợ máu, ngọn lửa căm thù vẫn cháy ngùn ngụt trong mắt người dân. 

Chiến tranh đi qua nhưng tàn dư vẫn còn đọng lại, những nghĩa trải dài, những bia mộ lạnh lẽo với thời gian, những con người mất đi một phần thân thể mình… giữa những mảnh đời mưu sinh lặng lẽ, có những con người vẫn đang mang trên mình nỗi đau khôn tả khi những thế hệ sau mình sinh ra còn đeo đuổi mãi những tàn tích chiến tranh- chất độc màu da cam, họ âm thầm chịu đựng, chấp nhận số phận mà không hiểu vì sao. Thật đau lòng khi chứng kiến cảnh những em bé bị nhiễm chất độc da cam đang chơi đùa gần đó. Có lẽ các em chưa đủ nhận biết nỗi đau đớn mà những khiếm khuyết kia đang hành hạ em. Tôi may mắn được sinh ra lành lặn và khỏe mạnh, nhưng liệu thế hệ tôi và cả sau tôi, có phải tất cả cũng đều may mắn như vậy? không chỉ đối với nhân dân ta, ngay cả binh lính Mỹ- những kẻ mang “sứ mệnh” xâm luợc khai hóa cũng phải gánh chịu hậu quả mà chúng đã gây ra. Không ít binh lính, phi công Mỹ trở về từ chiến tranh việt Nam mang theo trong mình mầm mống chất độc để rồi thế hệ sau sinh ra cũng không tránh khỏi. đó là cái giá phải trả, cũng là nỗi đau chung nhiều thế hệ phải chịu đựng. càng như vậy càng thấy rõ sự phi nghĩa của chiến tranh, càng phải lên án chống lại. 

Chiến tranh đã kết thúc trên đất nước ta hơn ba thập kỉ, nhưng liệu rằng nỗi kinh hoàng và những hậu quả của nó đã chấm dứt? 

Ánh chiều dần buông khi chúng tôi rời bảo tàng trong cái àm ào của thành phố về chiều. Bỏ lại sau lưng kí ức về một thời, đi qua những cỗ xe tăng, trực thăng, những quả bom to hơn một dáng người, băng qua con đường khi mưa đã ngớt hẳn. Đi dưới tán cây, chợt có làn gió thổi làm cành cây rung lá làm rơi những gịot nước đọng lên áo, cảm nhận sự bình yên đang len lỏi trong từng ngõ ngách của sự sống nơi này. 

(bài viết nhân chuyến tham quan Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh)

ĐÔNG VỀ ẤM ÁP

(Tặng Đức, mong cậu sớm vượt qua và bình phục) 

Nhặt chiếc lá vàng vừa cất mình thả xuống mặt đất lơ đễnh. Nó ngước nhìn bầu trời màu xám đang trải trên đầu. Một làn gió thổi qua mang theo cái rét khẽ khàng đi ngang lùa chân tóc. Đông đang về. Cái rét ấy mới thân quen làm sao, quen lắm mà giờ xa xôi lắm. Dường như nó đã trải qua lâu lắm rồi. Mà không, cái rét này lạ lẫm chứ không hề quen. Bởi giờ đây cơn gió lạnh mang theo cái rét đến khi nó chỉ còn lại một mình cô đơn trơ trọi, phải một mình chống chọi với mùa đông. Ôi…lạnh…! 

- Ran ơi, cậu thích mùa nào nhất? 

- Mình à, mình thích mùa xuân nhất, mùa xuân có hoa thơm, trời xanh nắng vàng. Mùa xuân tết đến, mọi người xum vầy. Mình mong tết về… 

- Còn mình thích mùa đông nhất. 

- Vậy sao? 

- Ưh, mùa đông những cơn gió nhẹ vờn tóc bay, tuyết rơi nhè nhẹ miên man xao động một góc trời… và mùa đông đến điều mình mong ước sẽ trở thành hiện thực… 

- Oa, cậu cũng lãng mạn nhỉ!... Mà điều ước của cậu là gì thế, chia sẻ với mình được không? 

- Suỵt, đó là một bí mật chưa thể bật mí,… 

Hai đứa trẻ vẫn say xưa với câu chuyện giữa đồi mà chẳng hay gió bắt đầu se lạnh thổi mênh mang một góc chân trời. 

Đến bây giờ nó vẫn lờ mờ chưa thể đoán ra điều ước thầm kín mà Mi từng nhắc đến. Mà cũng lâu lắm rồi, có lẽ nó đã quên nếu như miền kí ức năm nào không ùa về ồ ạt như cơn gió thoảng chiều nay. 

*                       * 


Mi có đôi mắt to và đen láy, lông mi dài, dáng người dong dỏng cao. Nó thì ngược lại, mắt một mí, lùn và tròn như cây nấm. Hai đứa đi với nhau là lũ bạn tha hồ chọc cười, cặp đôi số 10, San-chô Pan-xa và Đôn-ki-hô-tê. Kệ, hai đứa vẫn thân nhau lạ. Mỗi chiều sau giờ học, chẳng chịu về nhà ngay mà còn tha thẩn rủ nhau ra đồi thông bên đường gần trường. Nói là đồi thông cho oai chứ được có mấy cây thông, còn lại là khu đất trống đang chờ quy hoạch trồng cây, mặt đất phủ trắng một màu hoa xuyến chi và mấy bông lọ lem tím. Chỉ có vậy mà cảnh cũng thu hút được sự chú ý của hai đứa trẻ đến lạ, hầu như hôm nào hai đứa cũng đi qua đó ngắm hoàng hôn hay hái hoa kết vòng đội đầu, có khi tối mịt mới chịu về. Đến nhà tha hồ “ăn cháo lươn” của mẹ, mà có chịu chừa đâu, hôm sau vẫn thế. 

Năm tháng dần trôi, hai dứa bé giờ lớn lên rồi, những thiếu nữ giờ đây bận bịu học hành chẳng còn nhiều thời gian dành cho đồi thông năm xưa, con đường ngày xưa giờ cũng thay đổi, ồn ào đông đúc hơn. Cây xanh phủ khắp triền đồi nhưng hoa xuyến chi vẫn trải dài đến vô tận. 

Nó bước đi trên đường mà hồn đang tận nơi nào xa xăm lắm. Đường hôm nay thật dài, gió thoảng qua làm lá cây rụng tơi tả. Bước mãi mà đường xa quá. Bấy lâu nay có bao giờ đường xa đến vậy. Chợt nhận ra giờ nó đang đi một mình, Mi chẳng còn đi cùng nữa. Chiều nay nó nhận được cú điện thoại của chị Na - chị gái Mi, Mi đã vô Sài Gòn thử máu, Mi nhờ chị chuyển lời xin lỗi vì không đến dự sinh nhật nó được, Mi vẫn nhớ sinh nhật nó nhưng không thể đến. Nó hoảng hốt vì sự vô tâm của mình. Dồn dập hỏi, nó được biết Mi bị bệnh máu trắng, giờ đang thử để tìm máu tương thích, dù hi vọng rất mong manh. Sững sờ như sét đánh ngang tai, nó chết sững giữa hàng cây vắng lặng. Nó giận Mi giữ lắm, giận vì Mi quên sinh nhật nó, giận vì hai đứa đã hứa khi nào sinh nhật một trong hai thì cả hai sẽ cùng đến khu đồi này chúc mừng sinh nhật đứa kia. Nó đã đợi ở đây từ sáng mà Mi không đến. Chẳng lẽ Mi quên thật, năm tháng và những người bạn mới đã làm Mi cho nó vào dĩ vãng hay sao? Hoàng hôn buông, những tia nắng nặng nề thu mình sau rặng núi nơi chân trời… 

Một buổi sáng chủ nhật, nó ngồi trước máy vi tính, lười biếng gõ bàn phím nhập dòng địa chỉ yahoo. Hộp thư đến báo tin nhắn: “Chào Ran! Đoán xem mình là ai nào? Nhận được tin nhắn thì PM cho mình nhé!” Cái nick lạ mới gửi tin cách đây vài phút. Nó tò mò send lại. Mi, đúng là Mi thật rồi. Nó mừng quýnh. Nó hỏi nhưng Mi không nói nhiều, chỉ nói Mi vẫn khỏe, nhớ nó nhiều. Rồi Mi nói mệt và thoát nick. Nó hụt hẫng nhưng cũng thấy an tâm hơn vì Mi vẫn bình an. 

Một ngày bình yên sau kì thi Đại học, nó bước đi dưới tán thông xanh trên ngọn đồi năm nào. Con đường giờ trải gạch, ghế đá đặt san sát. Đồi thông vắng và lành lạnh, gió khẽ lay rì rào một góc trời. Từ xa nhìn lại một bóng dáng nhỏ bé đang ngồi ngước nhìn những tán thông. Quen mà lạ. Hình như đó là một cô bé, cô đội chiếc mũ len trùm kín đầu, chiếc áo len dày cộp ấm áp. Có vẻ đang chờ đợi cái gì đó. Nó bước lại gần, giật mình vì giọng nói quen thuộc cất lên. “Cậu đến rồi à, vẫn nhớ hôm nay là ngày gì chứ. Thế mà mình cứ sợ cậu sẽ quên…” 

Ôi! Đó là Mi… Nó ngạc nhiên không thốt nổi nên lời. Mi bằng xương bằng thịt đang đứng trước mặt nó. Những ngày tháng xạ trị đau đớn đã khiến dáng hình Mi bé nhỏ và gầy đi nhiều, tóc cũng rụng hết vì hóa chất. Giờ đây Mi đang dần hồi phục, tóc đang mọc trở lại. 

Đôi bạn nhìn nhau trong im lặng. Bất chợt cơn gió thoảng qua khiến cả hai cùng rùng mình-lạnh. “Chúc mừng sinh nhật Mi, mừng cậu đã trở về” 

*                 * 

Gió vẫn miên man trên triền đồi, vạt xuyến chi lay lay biển màu trắng và vàng trải ra vô tận. Bông lọ lem tím nấp mình e ấp giữa những tán cây. Đông đã về nhưng không mang theo hơi lạnh, đông đang về nhưng cả hai vẫn cảm thấy thật ấm áp.

3 tháng 7, 2013

Mười mùa xuân, văn học Trường Sơn – Tây Nguyên


Không một vùng đất nào trên trái đất, có được kho tàng văn học dân gian truyền miệng phong phú về giai điệu, giàu có về nội dung, đồ sộ về khối lượng, độc đáo về hình thức trình diễn , như thể loại trường ca – sử thi của các dân tộc thiểu số khu vực Trường Sơn – Tây Nguyên. Cho dẫu trải qua nhiều biến động của thời gian, của lịch sử xã hội, của phương thức sản xuất du canh, luân canh; của sự chuyển đổi tín ngưỡng, tôn giáo, có làm cho đứt gãy , thì thuở xa xưa, có thể tộc người thiểu số bản địa nào của Tây Nguyên, cũng có trường ca, sử thi.

Đây không chỉ là những áng văn học truyền miệng dài hơi, những bộ “ tiểu thuyết” bằng thơ ca dân gian, mà còn vô cùng độc đáo ở nghệ thuật diễn xướng. Bởi mỗi nghệ nhân hát – kể trường ca, sử thi là một nghệ sỹ tổng hợp , vừa là đạo diễn dàn dựng, là diễn viên trình tấu , vừa là nhà phê bình, bình luận nội dung cốt truyện. Quan trọng nhất, họ là những tác giả chân đất vô cùng tài ba. Đội ngũ nghệ nhân hát – kể này, những “ báu vật dân gian sống” theo cách gọi của tổ chức UNESCO, đã từng rất, rất đông đảo trong mọi buôn, bon, kon, plei ở Trường Sơn – Tây Nguyên. Chẳng có lần kể chuyện nào giống hệt lần nào, bởi người nghe càng chăm chú, người kể càng thăng hoa, dẫn dắt không chỉ nhân vật của mình, mà cả khán thính giả, bay lượn khắp ba tầng trời, đất và dưới đất, dưới nước…

Xưa là thế ! Nay thì cũng không có một vùng đất nào mà văn học viết hiện đại lại ít ỏi và thiếu cả về đội ngũ tác giả lẫn tác phẩm, như văn học các dân tộc thiểu số ở Trường Sơn – Tây Nguyên. Tại sao vậy, khi chính họ là chủ nhân của kho tàng văn học truyền miệng giàu có và độc đáo nhường ấy? Tuy nhiên, mười năm đầu của thế kỷ XXI đã có những tín hiệu vui mừng. Đây có thể được coi là giai đoạn “ nở rộ ” của vườn hoa văn học dân tộc thiểu số trong khu vực Trường Sơn – Tây Nguyên, sau 35 năm phát triển; cả về đội ngũ lẫn tác phẩm.

Kinh tế Tây Nguyên vào đầu thế kỷ XXI có những đổi thay tích cực. Nhưng cuộc sống đời thường của các văn nghệ sỹ, nhất là người dân tộc thiểu số, vẫn không mấy dễ dàng gì. Thế nhưng sức sáng tạo của các anh chị không hề giảm sút, mà dường như còn ngày càng mãnh liệt hơn.

Ngoài những tác giả đã định hình, tiếp tục bổ xung hành trang sáng tạo của mình bằng nhiều tập sách in riêng như : Già làng Y Điêng cây đại thụ của “ Làng văn” dân tộc thiểu số Trường Sơn – Tây Nguyên viết liền hai tập tiểu thuyết N’Trang Lơng & Bên bờ Sông Hing.Và còn gây sửng sốt cho bạn yêu văn học bởi tập dày dặn ” Thơ Y ĐIêng”

Nữ nhà Văn Kim Nhất người dân tộc Bâhnar quê Bình Định nhưng mê mải lập nghiệp văn chương tại Buôn Ma Thuột, đã xuất bản thêm 8 tập truyện ngắn, bao gồm cả truyện viết cho thiếu nhi, đòng thời hoàn thành bản thảo hai tiểu thuyết Hoa dại đại ngàn & Luật của rừng. Điều khó tin mà có thật ở sức sáng tạo của một tác giả nữ người dân tộc đã sấp xỉ 70 mùa rẫy.

Nữ sỹ H’Linh Niê, dân tộc Êđê có lẽ vì quá cảm mến gió lộng cao nguyên mà trong mười năm vừa qua, liên tiếp giới thiệu với bạn bè yêu văn học hai tập truyện ngắn ( Gió đỏ & Pơ Thi mênh mang mùa gió), cùng hai tập bút ký văn học ( Đi tìm hồn chiêng & Nhân danh ai)

Không chịu thua kém bạn bè, nhà thơ đầy nữ tính dân tộc Hrê Nga Ri Vê ở Quảng Ngãi in thêm tập thơ Khát vọng & một tập truyện ký

Hội VHNT tỉnh Quãng Ngãi xuất bản tuyển tập thơ của tác giả quá cố người dân tộc Hrê Đinh Xăng Hiền

Chán thành phố Hồ Chí Minh ồn ào náo nhiệt, nên nối bước chân tới mọi nẻo đường rừng Tây Nguyên, nhạc sỹ Kpă Y Lăng vừa đi viết nhạc vừa ham mê chụp ảnh lại còn cho ra mắt bạn đọc tập thơ Mặt trời Cao nguyên.

Cây bút trẻ Êđê Niê Thanh Mai in liền ba tập truyện ngắn khẳng định vị trí không dễ lẫn của mình trên văn đàn không chỉ trong khu vực.

Cô giáo người dân tộc Tày Hoàng Thanh Hương ở Hội VHNT tỉnh Gia Lai, rời bục giảng để chuyên tâm gắn bó với văn chương, in thêm hai tập thơ ( Lời cầu hôn của rừng & Dự cảm) và một tập truyện ngắn

May mắn thay khi trên văn đàn Tây Nguyên “ bỗng dưng” xuất hiện thêm một số tác giả “ tự thân vận động” nhưng nhanh chóng định hình, đó là hai người làm thơ :

– H’Trem Knul , cô giáo người dân tộc Êđê ở Đăk Lăk mà ngay từ khi mới “ trình làng” trước khi in tập thơ “ Tiếng chiêng dài”, đã khiến giới chuyên môn trong khu vực phải chú ý, bởi thơ chị mang nhiều ảnh hưởng rõ nét của trường ca, sử thi từ đề tài cho đến văn phong.

– K’Ra Zan Plin , một nhạc sỹ người dân tộc K’Ho ở Lâm Đồng . Với hai tập thơ “ Cao nguyên tôi yêu ” và “ Tôi yêu Cao nguyên ” tác giả này mang đến cho người đọc những ấn tượng khó quên không chỉ từ những câu thơ tinh tế, mà còn rất dí dỏm, theo cách nói chân thật của người miền núi.

Tại Gia Lai cũng có thêm sự xuất hiện khá là rụt rè của một giọng thơ nữ Jrai H’Bi Tô, đang được Hội VHNT tỉnh “ chăm sóc”.

Đặc biệt, từ năm 2004, vì quá “ bức xúc” với việc tìm và phát hiện những cây bút trẻ người dân tộc thiểu số, Hội VHNT Đăk lăk hai năm một lần, độc lập trích trong kinh phí hoạt động hàng năm của Hội, tổ chức lớp bồi dưỡng văn thơ cho thiếu nhi dân tộc trong tỉnh, nòng cốt là những học sinh trường dân tộc nội trú N’Trang Lơng và học sinh giỏi văn cấp hai ở các huyện. Công việc chẳng dễ dàng gì, vì ngay từ tháng 5 đã phải có công văn cho các phòng Giáo dục, các trường dân tộc nội trú huyện, để làm công tác tuyển chọn, tìm địa chỉ, đợi các em nghỉ hè mới tổ chức được lớp. Thế những nhờ vậy mà đã có 100 lượt em, tuổi từ 15 đến 18, tham gia bốn lớp bồi dưỡng này. Không chỉ có thiếu nhi người dân tộc bản địa, mà còn có con em các dân tộc phía Bắc cùng tham dự . Bốn tuyển tập Hoa rừng chọn từ các lớp bồi dưỡng này, đã giúp một số em tự tin hơn, mong muốn được đi tiếp trên con đường sáng tạo văn học như các lớp đàn anh đàn chị. Hai cô gái Êđê H’Phi La Niê và H’Wê Ra theo học lớp đại học viết văn dành cho đối tượng người dân tộc thiểu số, của Trường Đại học văn hóa Quân đội Hà Nội ( đều đã được kết nạp Đảng tại trường) . Hai cây bút đang rất sung sức và yêu nghề. Rất tiếc, ngày đó Hội VHNT tỉnh Kon Tum cũng đã cử tuyển một nữ sinh giỏi văn người dân tộc Sê Đăng, nhưng bản thân em không ham thích, nên đã từ chối.

Phía Đăk Nông, cô bác sỹ đa khoa tương lai Hoàng Nhật Rla Yang, nếu không quá bận bịu với việc chuẩn bị hành trang để phục vụ sức khỏe cho cộng đồng, chắc hẳn đã hứa hẹn vai trò một tác giả, như hai người bạn đồng niên Êđê nói trên. Đây chính là “ của hiếm” trong cộng đồng người dân tộc Mnông ở cả hai tỉnh Đăk Lăk và Đăk Nông.

Có thể vui hơi sớm. Nhưng việc đội ngũ những người viết văn dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên ngày càng được bổ sung, thậm chí cả được đào tạo bài bản; tuy mới chủ yếu sôi nổi ở Đăk lăk, chính là một việc làm đúng đắn, có hiệu quả từ sự quan tâm của các Hội VHNT, mà Đăk lăk là nơi mở đầu.

Các dân tộc thiểu số Trường Sơn – Tây Nguyên vốn có một kho tàng văn học truyền miệng , đặc biệt là lời nói vần, vô cùng đồ sộ. Lời nói vần làm nên những bộ luật tục chi phối toàn bộ đời sống vật chất và tình thần của mọi thành viên trong cộng đồng. Lời nói vần là kết cấu chính của thể loại trường ca, sử thi. Lời nói vần là kinh nghiệm sản xuất, lề thói ứng xử được truyền dạy, là phương tiện ngỏ lời yêu lời thương của gái trai. Bên cạnh đó là những câu chuyện cổ tích, ngụ ngôn, cũng phong phú và giàu có không kém.… Thơ văn dân gian miền núi xuất hiện hàng ngày,hàng giờ trên nương rẫy, ngoài suối nước, bên bếp lửa nhà sàn…Thế nên nếu viết văn, làm thơ bằng tiếng mẹ đẻ, chắc chắn sẽ dễ dàng hơn với người thiểu số, so với viết bằng tiếng phổ thông. Trong thực tế, nói tiếng Kinh đã như là học thông một ngoại ngữ, thì dù giỏi tiếng Việt đến mức nào đi nữa, làm thơ, viết văn bằng tiếng phổ thông đối với người dân tộc thiểu số vẫn không dễ chút nào.

Những thế hệ viết văn người dân tộc đi trước, có thể có những khiếm khuyết, vì hoàn toàn viết theo bản năng, hay mày mò tự học, cũng không có những người am hiểu văn học dân gian truyền thống để hướng dẫn.

Thế nên khi lần đầu tiên tổ chức lớp viết văn cho thiếu nhi dân tộc ở Đăk Lăk, Hội VHNT đã lưu ý đến việc khuyến khích các em viết bằng hai thứ tiếng. Cách ấy đến nay, sau bốn lượt lớp bồi dưỡng hè, vẫn phát huy tác dụng tốt, bước đầu ở các em đã hình thành tư duy sáng tạo gắn với ngôn ngữ tộc người của chính mình. Bởi khác với thế hệ đi trước, phải xa rời quê hương từ rất sớm, các em lớn lên từ khói bếp trên mái nhà sàn ở buôn làng, đôi bàn chân trần lội qua con suối đêm ngày róc rách tự tình để đến trường mỗi sớm; nên ngôn ngữ dân tộc thấm đẫm trong hơi thở, giọng nói hàng ngày, khiến em nghĩ bằng lối nói của chín miình sẽ sâu sắc hơn.Việc chính các tác giả đi trước ở Đăk lăk đã làm là hướng cho những cây bút tương lai, biết tìm và giữ lấy cái gì ở văn học dân gian truyền thống, cũng như viết những gì về cuộc sống ở con người và buôn làng mình, như lớp cha chú đã từng làm. Chưa thể đòi hỏi sự trọn vẹn, chưa thể có được những tác phẩm mang giá trị cao cả về nội dung lẫn thể loại, cũng như việc phát huy giá trị tình thần của di sản văn học truyền miệng quý báu mà Tây Nguyên có sẵn, nhưng hy vọng là điều chúng ta có được. Và cũng chính điều ấy giúp các em tự tin hơn. Những H’Siêu Byă, H’Xíu Hmok, Mã Thị Vân Anh, A Yun Ánh Hồng…là niềm hy vọng mà chúng ta trông đợi.
Từ trái qua: AYun Ánh Hồng, H Rut Niê, NV. Hồng Chiến, H Xíu H Mok, H Siêu Byă
(Trại hè 2008)
Một cái cây non dẫu có tự nhiên mọc giữa rừng, cũng phải qua tháng năm uống sương, tắm nắng gió, bám rễ sâu vào đất đỏ ba zan, mới góp thành đại ngàn. Để định hình một tác giả dân tộc thiểu số lại càng không phải là việc một sớm, một chiều, nhưng chúng ta có quyền hy vọng và trông mong ở tấm lòng của các Hội VHNT địa phương trong khu vực, đặc biệt là Hội Nhà Văn và Hội Văn nghệ dân tộc thiểu số, cũng sẽ có sự chuyển biến trong tư duy bồi dưỡng, đào tạo lực lượng sáng tạo này. Để văn học đương đại khu vực Trường Sơn – Tây Nguyên sẽ có ngày thật sự khởi sắc.

Xuân Tân Mão theo gió cao nguyên lồng lộng, phơi phới tràn về trên mọi nẻo đường. Chúc cho những cây bút văn chương người dân tộc thiểu số Trường Sơn – Tây Nguyên mỗi ngày một thêm đông đảo, nhiều hương thơm,đậm sắc như hoa rừng mùa xuân.

Linh Nga Niê Kdăm