Lời cảm ơn

Cảm ơn bạn đã ghé thăm blog của Mèo Con Anx, hi vọng tiếp tục nhận được sự ủng hộ của bạn.
Mến chúc bạn luôn vui tươi và tìm thấy nhiều điều ý nghĩa trong cuộc sống nhé!

3 tháng 7, 2013

Mười mùa xuân, văn học Trường Sơn – Tây Nguyên


Không một vùng đất nào trên trái đất, có được kho tàng văn học dân gian truyền miệng phong phú về giai điệu, giàu có về nội dung, đồ sộ về khối lượng, độc đáo về hình thức trình diễn , như thể loại trường ca – sử thi của các dân tộc thiểu số khu vực Trường Sơn – Tây Nguyên. Cho dẫu trải qua nhiều biến động của thời gian, của lịch sử xã hội, của phương thức sản xuất du canh, luân canh; của sự chuyển đổi tín ngưỡng, tôn giáo, có làm cho đứt gãy , thì thuở xa xưa, có thể tộc người thiểu số bản địa nào của Tây Nguyên, cũng có trường ca, sử thi.

Đây không chỉ là những áng văn học truyền miệng dài hơi, những bộ “ tiểu thuyết” bằng thơ ca dân gian, mà còn vô cùng độc đáo ở nghệ thuật diễn xướng. Bởi mỗi nghệ nhân hát – kể trường ca, sử thi là một nghệ sỹ tổng hợp , vừa là đạo diễn dàn dựng, là diễn viên trình tấu , vừa là nhà phê bình, bình luận nội dung cốt truyện. Quan trọng nhất, họ là những tác giả chân đất vô cùng tài ba. Đội ngũ nghệ nhân hát – kể này, những “ báu vật dân gian sống” theo cách gọi của tổ chức UNESCO, đã từng rất, rất đông đảo trong mọi buôn, bon, kon, plei ở Trường Sơn – Tây Nguyên. Chẳng có lần kể chuyện nào giống hệt lần nào, bởi người nghe càng chăm chú, người kể càng thăng hoa, dẫn dắt không chỉ nhân vật của mình, mà cả khán thính giả, bay lượn khắp ba tầng trời, đất và dưới đất, dưới nước…

Xưa là thế ! Nay thì cũng không có một vùng đất nào mà văn học viết hiện đại lại ít ỏi và thiếu cả về đội ngũ tác giả lẫn tác phẩm, như văn học các dân tộc thiểu số ở Trường Sơn – Tây Nguyên. Tại sao vậy, khi chính họ là chủ nhân của kho tàng văn học truyền miệng giàu có và độc đáo nhường ấy? Tuy nhiên, mười năm đầu của thế kỷ XXI đã có những tín hiệu vui mừng. Đây có thể được coi là giai đoạn “ nở rộ ” của vườn hoa văn học dân tộc thiểu số trong khu vực Trường Sơn – Tây Nguyên, sau 35 năm phát triển; cả về đội ngũ lẫn tác phẩm.

Kinh tế Tây Nguyên vào đầu thế kỷ XXI có những đổi thay tích cực. Nhưng cuộc sống đời thường của các văn nghệ sỹ, nhất là người dân tộc thiểu số, vẫn không mấy dễ dàng gì. Thế nhưng sức sáng tạo của các anh chị không hề giảm sút, mà dường như còn ngày càng mãnh liệt hơn.

Ngoài những tác giả đã định hình, tiếp tục bổ xung hành trang sáng tạo của mình bằng nhiều tập sách in riêng như : Già làng Y Điêng cây đại thụ của “ Làng văn” dân tộc thiểu số Trường Sơn – Tây Nguyên viết liền hai tập tiểu thuyết N’Trang Lơng & Bên bờ Sông Hing.Và còn gây sửng sốt cho bạn yêu văn học bởi tập dày dặn ” Thơ Y ĐIêng”

Nữ nhà Văn Kim Nhất người dân tộc Bâhnar quê Bình Định nhưng mê mải lập nghiệp văn chương tại Buôn Ma Thuột, đã xuất bản thêm 8 tập truyện ngắn, bao gồm cả truyện viết cho thiếu nhi, đòng thời hoàn thành bản thảo hai tiểu thuyết Hoa dại đại ngàn & Luật của rừng. Điều khó tin mà có thật ở sức sáng tạo của một tác giả nữ người dân tộc đã sấp xỉ 70 mùa rẫy.

Nữ sỹ H’Linh Niê, dân tộc Êđê có lẽ vì quá cảm mến gió lộng cao nguyên mà trong mười năm vừa qua, liên tiếp giới thiệu với bạn bè yêu văn học hai tập truyện ngắn ( Gió đỏ & Pơ Thi mênh mang mùa gió), cùng hai tập bút ký văn học ( Đi tìm hồn chiêng & Nhân danh ai)

Không chịu thua kém bạn bè, nhà thơ đầy nữ tính dân tộc Hrê Nga Ri Vê ở Quảng Ngãi in thêm tập thơ Khát vọng & một tập truyện ký

Hội VHNT tỉnh Quãng Ngãi xuất bản tuyển tập thơ của tác giả quá cố người dân tộc Hrê Đinh Xăng Hiền

Chán thành phố Hồ Chí Minh ồn ào náo nhiệt, nên nối bước chân tới mọi nẻo đường rừng Tây Nguyên, nhạc sỹ Kpă Y Lăng vừa đi viết nhạc vừa ham mê chụp ảnh lại còn cho ra mắt bạn đọc tập thơ Mặt trời Cao nguyên.

Cây bút trẻ Êđê Niê Thanh Mai in liền ba tập truyện ngắn khẳng định vị trí không dễ lẫn của mình trên văn đàn không chỉ trong khu vực.

Cô giáo người dân tộc Tày Hoàng Thanh Hương ở Hội VHNT tỉnh Gia Lai, rời bục giảng để chuyên tâm gắn bó với văn chương, in thêm hai tập thơ ( Lời cầu hôn của rừng & Dự cảm) và một tập truyện ngắn

May mắn thay khi trên văn đàn Tây Nguyên “ bỗng dưng” xuất hiện thêm một số tác giả “ tự thân vận động” nhưng nhanh chóng định hình, đó là hai người làm thơ :

– H’Trem Knul , cô giáo người dân tộc Êđê ở Đăk Lăk mà ngay từ khi mới “ trình làng” trước khi in tập thơ “ Tiếng chiêng dài”, đã khiến giới chuyên môn trong khu vực phải chú ý, bởi thơ chị mang nhiều ảnh hưởng rõ nét của trường ca, sử thi từ đề tài cho đến văn phong.

– K’Ra Zan Plin , một nhạc sỹ người dân tộc K’Ho ở Lâm Đồng . Với hai tập thơ “ Cao nguyên tôi yêu ” và “ Tôi yêu Cao nguyên ” tác giả này mang đến cho người đọc những ấn tượng khó quên không chỉ từ những câu thơ tinh tế, mà còn rất dí dỏm, theo cách nói chân thật của người miền núi.

Tại Gia Lai cũng có thêm sự xuất hiện khá là rụt rè của một giọng thơ nữ Jrai H’Bi Tô, đang được Hội VHNT tỉnh “ chăm sóc”.

Đặc biệt, từ năm 2004, vì quá “ bức xúc” với việc tìm và phát hiện những cây bút trẻ người dân tộc thiểu số, Hội VHNT Đăk lăk hai năm một lần, độc lập trích trong kinh phí hoạt động hàng năm của Hội, tổ chức lớp bồi dưỡng văn thơ cho thiếu nhi dân tộc trong tỉnh, nòng cốt là những học sinh trường dân tộc nội trú N’Trang Lơng và học sinh giỏi văn cấp hai ở các huyện. Công việc chẳng dễ dàng gì, vì ngay từ tháng 5 đã phải có công văn cho các phòng Giáo dục, các trường dân tộc nội trú huyện, để làm công tác tuyển chọn, tìm địa chỉ, đợi các em nghỉ hè mới tổ chức được lớp. Thế những nhờ vậy mà đã có 100 lượt em, tuổi từ 15 đến 18, tham gia bốn lớp bồi dưỡng này. Không chỉ có thiếu nhi người dân tộc bản địa, mà còn có con em các dân tộc phía Bắc cùng tham dự . Bốn tuyển tập Hoa rừng chọn từ các lớp bồi dưỡng này, đã giúp một số em tự tin hơn, mong muốn được đi tiếp trên con đường sáng tạo văn học như các lớp đàn anh đàn chị. Hai cô gái Êđê H’Phi La Niê và H’Wê Ra theo học lớp đại học viết văn dành cho đối tượng người dân tộc thiểu số, của Trường Đại học văn hóa Quân đội Hà Nội ( đều đã được kết nạp Đảng tại trường) . Hai cây bút đang rất sung sức và yêu nghề. Rất tiếc, ngày đó Hội VHNT tỉnh Kon Tum cũng đã cử tuyển một nữ sinh giỏi văn người dân tộc Sê Đăng, nhưng bản thân em không ham thích, nên đã từ chối.

Phía Đăk Nông, cô bác sỹ đa khoa tương lai Hoàng Nhật Rla Yang, nếu không quá bận bịu với việc chuẩn bị hành trang để phục vụ sức khỏe cho cộng đồng, chắc hẳn đã hứa hẹn vai trò một tác giả, như hai người bạn đồng niên Êđê nói trên. Đây chính là “ của hiếm” trong cộng đồng người dân tộc Mnông ở cả hai tỉnh Đăk Lăk và Đăk Nông.

Có thể vui hơi sớm. Nhưng việc đội ngũ những người viết văn dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên ngày càng được bổ sung, thậm chí cả được đào tạo bài bản; tuy mới chủ yếu sôi nổi ở Đăk lăk, chính là một việc làm đúng đắn, có hiệu quả từ sự quan tâm của các Hội VHNT, mà Đăk lăk là nơi mở đầu.

Các dân tộc thiểu số Trường Sơn – Tây Nguyên vốn có một kho tàng văn học truyền miệng , đặc biệt là lời nói vần, vô cùng đồ sộ. Lời nói vần làm nên những bộ luật tục chi phối toàn bộ đời sống vật chất và tình thần của mọi thành viên trong cộng đồng. Lời nói vần là kết cấu chính của thể loại trường ca, sử thi. Lời nói vần là kinh nghiệm sản xuất, lề thói ứng xử được truyền dạy, là phương tiện ngỏ lời yêu lời thương của gái trai. Bên cạnh đó là những câu chuyện cổ tích, ngụ ngôn, cũng phong phú và giàu có không kém.… Thơ văn dân gian miền núi xuất hiện hàng ngày,hàng giờ trên nương rẫy, ngoài suối nước, bên bếp lửa nhà sàn…Thế nên nếu viết văn, làm thơ bằng tiếng mẹ đẻ, chắc chắn sẽ dễ dàng hơn với người thiểu số, so với viết bằng tiếng phổ thông. Trong thực tế, nói tiếng Kinh đã như là học thông một ngoại ngữ, thì dù giỏi tiếng Việt đến mức nào đi nữa, làm thơ, viết văn bằng tiếng phổ thông đối với người dân tộc thiểu số vẫn không dễ chút nào.

Những thế hệ viết văn người dân tộc đi trước, có thể có những khiếm khuyết, vì hoàn toàn viết theo bản năng, hay mày mò tự học, cũng không có những người am hiểu văn học dân gian truyền thống để hướng dẫn.

Thế nên khi lần đầu tiên tổ chức lớp viết văn cho thiếu nhi dân tộc ở Đăk Lăk, Hội VHNT đã lưu ý đến việc khuyến khích các em viết bằng hai thứ tiếng. Cách ấy đến nay, sau bốn lượt lớp bồi dưỡng hè, vẫn phát huy tác dụng tốt, bước đầu ở các em đã hình thành tư duy sáng tạo gắn với ngôn ngữ tộc người của chính mình. Bởi khác với thế hệ đi trước, phải xa rời quê hương từ rất sớm, các em lớn lên từ khói bếp trên mái nhà sàn ở buôn làng, đôi bàn chân trần lội qua con suối đêm ngày róc rách tự tình để đến trường mỗi sớm; nên ngôn ngữ dân tộc thấm đẫm trong hơi thở, giọng nói hàng ngày, khiến em nghĩ bằng lối nói của chín miình sẽ sâu sắc hơn.Việc chính các tác giả đi trước ở Đăk lăk đã làm là hướng cho những cây bút tương lai, biết tìm và giữ lấy cái gì ở văn học dân gian truyền thống, cũng như viết những gì về cuộc sống ở con người và buôn làng mình, như lớp cha chú đã từng làm. Chưa thể đòi hỏi sự trọn vẹn, chưa thể có được những tác phẩm mang giá trị cao cả về nội dung lẫn thể loại, cũng như việc phát huy giá trị tình thần của di sản văn học truyền miệng quý báu mà Tây Nguyên có sẵn, nhưng hy vọng là điều chúng ta có được. Và cũng chính điều ấy giúp các em tự tin hơn. Những H’Siêu Byă, H’Xíu Hmok, Mã Thị Vân Anh, A Yun Ánh Hồng…là niềm hy vọng mà chúng ta trông đợi.
Từ trái qua: AYun Ánh Hồng, H Rut Niê, NV. Hồng Chiến, H Xíu H Mok, H Siêu Byă
(Trại hè 2008)
Một cái cây non dẫu có tự nhiên mọc giữa rừng, cũng phải qua tháng năm uống sương, tắm nắng gió, bám rễ sâu vào đất đỏ ba zan, mới góp thành đại ngàn. Để định hình một tác giả dân tộc thiểu số lại càng không phải là việc một sớm, một chiều, nhưng chúng ta có quyền hy vọng và trông mong ở tấm lòng của các Hội VHNT địa phương trong khu vực, đặc biệt là Hội Nhà Văn và Hội Văn nghệ dân tộc thiểu số, cũng sẽ có sự chuyển biến trong tư duy bồi dưỡng, đào tạo lực lượng sáng tạo này. Để văn học đương đại khu vực Trường Sơn – Tây Nguyên sẽ có ngày thật sự khởi sắc.

Xuân Tân Mão theo gió cao nguyên lồng lộng, phơi phới tràn về trên mọi nẻo đường. Chúc cho những cây bút văn chương người dân tộc thiểu số Trường Sơn – Tây Nguyên mỗi ngày một thêm đông đảo, nhiều hương thơm,đậm sắc như hoa rừng mùa xuân.

Linh Nga Niê Kdăm

MÀU CUỘC SỐNG

Tôi chưa từng nghĩ cuộc sống có màu gì. Đối với tôi, mỗi ngày đi qua là một ngày mẹ còng lưng phơi nắng, làm lụng toan lo cho miếng ăn của cả nhà. Mẹ cặm cụi và thầm lặng, chẳng bao giờ tôi thấy mẹ than vãn hay phàn nàn điều gì, chỉ đôi khi, đâu đó vọng lại chút nhọc nhằn hằn nơi khóe mắt. Năm tháng qua đi, màu nâu đỏ của miền đất dưới chân mẹ cùng tuổi thơ tôi chơi trò đuổi bắt. Tôi cũng học cách cầm cán cuốc, tỉa đậu, tỉa bắp. Rồi cũng lấm tấm mồ hôi mỗi khi làm luống cỏ. Giọt mồ hôi có vị mặn chát chẳng đủ làm tôi băn khoăn. Lúc đó, tôi đơn giản chỉ mong sao mình không phải làm nhiều, không phải phơi thân dưới nắng, chừng đó là đủ vui rồi.
Tôi chưa từng hỏi cuộc sống có màu gì. Mùa lúa chín vàng rộm khắp cánh đồng. Chẳng còn đám chim chèo bẻo, chim se sẻ hay bay ra đậu trên ngọn lúa uống những hạt sữa non khi lúa còn đang búng sữa; đám chim bao phen khiến tôi mệt phờ vì phải chạy đầu bờ cuối ruộng. Khi mùa lúa chín chúng đã bay đi hết, chỉ còn lũ chuột đồng cứ hở ra là cắn tươm đám lúa chín. Thêm những ngày đi cắt cỏ bờ, giăng lưới bẫy chuột. Màu vàng của lúa nhìn nao cả cánh đồng, những bông lúa đu đưa trong gió, cảm giác trĩu nặng căng tràn trong những hạt vàng lay lay báo hiệu mùa lúa đầy.
cánh đồng quê tôi sau mùa gặt (ảnh chụp 2011)
Tôi không nhớ đã bao giờ thắc mắc cuộc sống có màu gì. Hành trình đến lớp thật ngắn không đủ để tôi suy nghĩ vẩn vơ nhiều thế. Trang vở, màu áo sáng cả một thời học sinh vô tư lự. Đi học là niềm vui bởi tôi không phải ra đồng hay lên rẫy ngày hôm đó với một lý do chính đáng. Tôi đi học. Những tấm giấy khen, những điểm mười đỏ chói, những giấy chứng nhận nọ kia khiến trong mắt mẹ lấp lánh niềm vui. Đôi mắt mẹ sáng hơn, long lanh hơn những khi ấy. Tôi thấy vui vì điều đó, cũng thấy tự hào thầm với chính mình.
Tôi nhớ loáng thoáng rằng mình cảm thấy cuộc sống màu hồng vào cái ngày tôi nhận được giấy báo trúng tuyển đại học. Cả thế giới quanh tôi mới rực rỡ làm sao. Có lẽ khi ước mơ thành sự thật, người ta cũng cảm thấy như tôi lúc này. 12 năm đèn sách miệt mài và tháng ngày khổ sở ôn thi giờ đây được đền đáp xứng đáng. Nhưng rồi chợt nhận thấy một khoảng tối trong màu mắt mẹ. Dù mẹ rất vui, rất tự hào nhưng sao đáy mắt kia vẫn ẩn chứa những khoảng tối? Tôi xa nhà, xa mẹ. Khoảng cách xa xôi hơn khi những khoản đóng học, sinh hoạt nơi thành phố cuốn tôi đi với những công việc, những toan lo bộn bề. Tôi ít về thăm mẹ, ít có thời gian rảnh để gọi điện nói chuyện với mẹ. 4 năm đại học là khoảng thời gian dài đằng đẵng. Tôi về thăm nhà, thấy tóc mẹ sợi bạc nhiều hơn, vết chân chim in dấu nhiều hơn.
Tôi không còn nhớ rõ tôi đã băn khoăn rằng cuộc sống có màu gì từ khi nào. Một ngày trời nắng chói chang và tôi đang suy nghĩ mông lung về điều gì đó. Con đường rộng và dài không môt bóng cây. Cái nắng đổ xuống đường như trách móc. Tôi bước đi mà không để ý xung quanh mình đang diễn ra điều gì. Khi sực tỉnh là lúc tôi nghe thấy có một tiếng va chạm thật mạnh. Rầm... huỵch...ự.... tôi cảm thấy đau nhói ở đâu đó, không xác định được là chỗ nào. Đám đông lô nhô tụ tập lại, và trước khi mắt mình khép lại, tôi cảm thấy hình như thế giới có màu đỏ.
***
Người con gái lững thững đi qua đường, con đường chang chang nắng, đông đúc những người và xe. Chiếc đèn đỏ sáng lên rồi nhấp nháy. Cô gái vẫn bước, dường như tâm trí đang để tận nơi đâu. Cô mới trải qua một cuộc cãi vã, mà không, tranh luận thì đúng hơn. Cô tranh luận với người bạn của mình và cả hai đã gay gắt, không ai chịu nhượng bộ. Có lẽ cô đang bận suy nghĩ về vấn đề đó chăng? Hay một vấn đề gì khác, không rõ nữa. Có điều cô vẫn đang bước đi vô thức, dù đèn đường bây giờ đã chuyển màu xanh.
Chiếc xe RS chạy với tốc độ cao đang băng qua ngã tư. Người chủ ngồi trên chiếc xe có lẽ đang rất vội, vừa chạy, anh ta vừa nhấn còi liên tục, thậm chí không thèm giảm tay ga khi đến ngã tư. Một đường cua lão luyện bỗng nhiên bị khựng lại. Tiếng phanh rít dữ dội, tiếng la hét thất thanh và tiếng vật gì rơi nghe lạnh lùng. Brừm... ke..et...Huỵch... máu chảy lênh láng một góc đường, người đi đường tò mò bu vào, con đường vốn đã đông đúc lại càng chật chội hơn. Cô gái nằm sõng soài trên vũng máu, bất động, mặt tím tái. Người chủ chiếc xe vừa gây tai nạn ngây dại nhìn chiếc xe rồi quay sang nhìn vũng máu. Những người đi đường nhìn nhau ngơ ngác, chừng cô gái kia không qua khỏi. Tiếng xe cấp cứu réo còi ầm ĩ, tiếng cảnh sát giao thông điều tiết cho xe chạy, đoàn người tản dần ra, chỉ còn chiếc xe nằm đó, chỏng chơ gần vũng máu lênh láng lúc này đã bắt đầu khô lại chuyển sang màu đỏ thẫm.
***
Tôi cảm thấy râm ran đâu đó, tê tê đâu đó. Có tiếng thì thầm gì đó bên tai, nghe rất gần những cũng rất xa xôi, như từ cõi nào vọng lại. Hình như ai đó gọi tên tôi, tâm sự thầm thì với tôi. Mơ hồ mà cũng rất thật. Tôi cảm thấy bàn tay mình ấm nóng, bàn tay chạm vào một cái gì đó mềm mềm, mượt mà. Hình như đôi má hay làn môi ai đó. Nhưng tôi không rõ là ai. Tiếng tít tít đều đều, tiếng thở nhè nhẹ, không khí thoang thoảng mùi cồn. Mùi ấy khiến tôi nhức óc. Tôi muốn vùng dậy, ra ngoài kia hít thở không khí trong trẻo. Chợt nhận ra thế giới xung quanh đâu đâu cũng một màu trắng muốt, trắng đến lạnh lẽo, rợn người. Cửa sổ trắng, căn phòng trắng, chiếc ra giường cũng trắng. Thậm chí, qua khung cửa sổ, bầu trời trên cao cũng một màu trắng. Tôi đâm hoảng hốt, tôi cố vùng vẫy, cố la lên nhưng cảm thấy bất lực. Tôi vẫn bất động. Có điều, dường như có một cái gì đó đang tiến lại gần, một bóng trắng không rõ hình thù đang tiến lại gần tôi. Và rồi, đột nhiên, như một hành động không báo trước, bóng trắng ấy ở gần tôi, chỉ cách một gang tay. Và, tôi thấy có một ánh sáng lóe lên cuối đường hầm, không còn là ánh sáng lòa xòa hư ảo ban nãy, nó trở nên rõ rệt như ánh sáng hải đăng chỉ đường để tàu tránh dải đá ngầm vậy. Tôi nghe đâu đó có nụ cười vỡ òa, không thành tiếng, sự vui mừng đang trở lại đâu đây. Hình như có cái gì đó nóng bỏng rớt xuống tay tôi, tong tong.
Tôi không còn cảm thấy mình phải suy nghĩ quá nhiều xem thế giới có màu gì, bởi tôi thấy thế giới có rất nhiều màu, có những màu sáng và cả những màu tối. Nhưng tôi thấy rõ một điều, tôi còn may mắn, còn sống và còn cảm nhận được từng mảng màu ấy từng ngày, một cách tràn đầy và trọn vẹn. Thật lạ lùng vì có lúc tôi đã nghĩ cuộc sống này thật nhạt nhẽo và đơn điệu. Trải qua một biến cố để nhận ra rằng, cuộc sống còn quá nhiều điều khác chờ tôi. Còn nhiều màu sắc đang chờ tôi khám phá, và trên hết, có những con người đang âm thầm chờ đợi và dõi theo tôi. Tôi đã tìm được những gam màu trong cuộc sống của mình. Còn bạn, cuộc sống của bạn có màu gì?